Unlocking the potential of smallholder livestock production- using managed forages as an entry point

 Werner Stür1, John Connell1, Phonepaseuth Phengsavanh2 and Truong Tan Khanh3

 1: International Center for Tropical Agriculture (CIAT), PO Box 783, Vientiane, Lao PDR, Email: w.stur@cgiar.org. 

2: National Agriculture and Forestry Research Institute (NAFRI), Vientiane, Lao PDR. 

3: Tay Nguyen University (TNU), Buon Ma Thuot, Daklak, Viet Nam.

LINKING FODDER TO LIVESTOCK MARKETS IN VIETNAM - EAKAR EXPERIENCES

Werner Stur and Truong Tan Khanh

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ CHĂN NUÔI HEO TẬP TRUNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Đinh Nam Lâm 1, Nguyễn Ngọc Đỉnh1, Trương Tấn Khanh1, Nguyễn Thị Vân Anh1

Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Tây Nguyên

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG CỎ TRỒNG TRÊN ĐẤT BẠC MÀU HUYỆN ĐẮK LẤP, ĐẮK NÔNG

Trương Tấn Khanh 
Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Tây Nguyên
tankhanh.dhtn@gmail.com

SỬ DỤNG BÃ SẮN CÔNG NGHIỆP TRONG VỖ BÉO BÒ THỊT

Trương Tấn Khanh
Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Tây Nguyên

SUMMARY

USING CASSAVA BAGASSE FROM INDUSTRIAL STARCH PROCESSING FOR FATTENING CATTLE

Truong Tan Khanh

The research was designed for evaluating effect of replacement of cassava meal by the dried cassava bagasse from starch processing factory in concentrate feed diet for fattening cattle and supply cassava bagasse silage for fattened cattle with the basic  feed was ad libitum of young Panicum maximum grass. The result of research was show 1) the replacement up to 100% of cassava meal by dried cassava bagasse was not significant affect to the feed intake, growth rate of fattened cattle, while the benefit of cattle fattening was significant higher; 2) the supplication of cassava bagasse silage for cattle, that was ad libitum grasses, was significant improvement of feed intake, growth rate and benefit of fattening cattle.
Key words:  Cassava bagasse, fattening, laisind cattle.



Ảnh hưởng của bổ sung các nguồn Protein khác nhau trong thức ăn hỗn hợp của khẩu phần đến tăng khối lượng và hiệu quả kinh tế nuôi bò vỗ béo tại Ea Kar, Đắk Lắk

Trương Tấn Khanh 

Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Tây Nguyên

Tóm tắt

Nghiên cứu này được bố trí nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế nguồn thức ăn giàu protein trong khẩu phần thức ăn hỗn hợp 15,5% protein thô sử dụng để nuôi bò vỗ béo hai nhóm Laisind và F1 (LS x Br)  là bột cá và bột lá cây họ đậu. Kết quả nghiên cứu cho thấy 1) thay thế hoàn toàn thức ăn giàu protein là bột cá bằng bột lá cây keo dậu không ảnh hưởng đáng kể đến lượng ăn vào và tốc độ tăng trọng của bò vỗ béo; 2) Vỗ béo bò thịt băng phương pháp cho ăn tự do cỏ hòa thảo và bổ sung thức ăn hỗn hợp có chứa 15,5% protein thô (cả hai khẩu phần bột cá và bột lá cây keo dậu) cho kết quả tăng trọng khá cao: bò Laisind đạt 795,22 – 801,33 gam/ngày và bò lai F1 (LS x Br) tăng từ 870,11 đến 882,33 gam/ngày; trong cả hai phương thức nuôi bò lai F1 (LS x Br)  luôn có tăng trọng cao hơn so với bò Laisind hiệu quả kinh tế của hai lô sai khác không đáng kể.

Từ khóa: Ảnh hưởng, nguồn protein, bột cá, bột lá cây keo dậu, vỗ béo, Laisind, F1(LS x Br).



Ảnh hưởng của bổ sung cỏ Stylo vào khẩu phần cỏ sả đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò thịt tơ

Trương Tấn Khanh

Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Tây Nguyên

Tóm tắt

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc cho ăn tự do (ad libitum) hỗn hợp cỏ stylo 184 và cỏ sả theo tỷ lệ 3:1 đến sinh trưởng của 2 nhóm bò: Laisind và bò F1 (LS x Br) so với việc chỉ nuôi bò bằng cỏ sả. Kết quả cho thấy 1) bổ sung cỏ stylo vào khẩu phần cỏ sả theo tỷ lệ 1:3 cải thiện một cách đáng kể lượng ăn vào của bò nuôi sinh trưởng ở cả 2 nhóm, lượng ăn vào tăng 22 – 23% so với khẩu phần chỉ có cỏ sả; 2) Bò Laisind nuôi dưỡng bằng cỏ sả tự do có tốc độ sinh trưởng khá cao (648,11 gam/ngày) và cao hơn đáng kể so với bò lai F1 (LS x Br), trong khi đó ở lô cho ăn tự do hỗn hợp cỏ stylo và cỏ sả theo tỷ lệ 1:3 thì bò lai cho tăng khối lượng cao hơn; 3) Tốc độ tăng khối lượng của cả hai nhóm bò ở lô cho ăn tự do cỏ hỗn hợp cao hơn so với lô chỉ cho ăn cỏ sả (765,22gam/ngày so với 648,11 gam/ngày ở bò Laisind và  789,11 gam/ngày so với  570 gam/ngày đối với F1(Br x LS); 4) Giá thành để sản xuất một kg thịt bò hơi  bằng cách cho ăn tự do cỏ hòa thảo hoặc hỗn hợp cỏ hòa thảo và cỏ stylo khá thấp (14.000 đến 16.900 đồng so với so với giá cả thị trường cùng lúc ( 35.000 đến 40.000 đồng)
Từ khóa: Ảnh hưởng, Stylo184, cỏ sả, bò sinh trưởng, Laisind,  F1(LS x Br)



ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ KHẢO SÁT NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ GIỐNG CỎ TRỒNG TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN EA KAR

Trương Tuấn Khanh, Trường Đại học Tây Nguyên