ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC PHỤC VỤ CHĂN NUÔI HEO TẬP TRUNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Đinh Nam Lâm 1, Nguyễn Ngọc Đỉnh1, Trương Tấn Khanh1, Nguyễn Thị Vân Anh1

Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Tây Nguyên

1- Mở đầu

Chăn nuôi heo theo quy mô trang trại ngày càng trở nên phổ biến và góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi tại Đắk Lắk, trong đó chăn nuôi theo mô hình trang trại nhỏ và vừa đang phát triển nhanh trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột.
Chăn nuôi heo phát triển theo hướng tập trung kéo theo nhu cầu về nguồn nước đảm bảo số lượng và chất lượng là rất cấp thiết. Bên cạnh đó  nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do chất thải chăn nuôi ngày càng cao và chưa được đánh giá cụ thể. Đứng trước nhu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài có tên như tên bài nêu trên. 

2- Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1- Vật liệu

Nước lấy từ các giếng (đào, khoan) sử dụng cho chăn nuôi heo tại các trại.
Máy phân tích nước model 975-MP, máy đo độ đục (Turbidity Meter – GB), nhiệt kế. Các dụng cụ, hóa chất và môi trường phục vụ công tác lấy, bảo quản, vận chuyển và phân tích mẫu.

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại các trại chăn nuôi heo thuộc 3 vùng (vùng I, II, III) trên địa Tp Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Mẫu nước được phân tích tại Bộ môn Cơ sở Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Tây Nguyên.
Vùng I nằm phía Bắc Tp Buôn Ma Thuột với đặc điểm có địa hình cao ráo. Vùng III nằm phía Nam Tp, có địa hình thấp trũng và vùng II nằm ở vị trí chuyển giao giữa vùng I và III. Các trại chăn nuôi heo có quy mô từ 30 nái hay 100 heo thịt trở lên.

2.3. Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu cách thức sử dụng nước tại các trại chăn nuôi heo trên địa bàn.
- Đánh giá chất lượng nguồn nước sử dụng chăn nuôi heo tập trung theo các chỉ tiêu:
+ Các chỉ tiêu vật lý: mùi, vị, độ đục, nhiệt độ
+ Các chỉ tiêu hóa học: pH, COD, DO, NO3-, NH4+,Cl-, BOD5, Ca++, Pb, Cu, Zn, As
+ Các chỉ tiêu sinh học: Coliforms tổng số, Coliforms chịu nhiệt, Cl .perfringens

2.4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lấy mẫu: mẫu nước được lấy từ các giếng khai thác nước theo phương pháp mẫu đơn, ngẫu nhiên vào lúc 6-9h sáng.
- Nhiệt độ: xác định bằng nhiệt kế quấn bông, đo ngay tại nguồn nước. Dùng nhiệt kế thủy ngân quấn bông ở đầu kim loại nhúng vào trong nước khoảng 5 phút.
- Mùi: cho 100ml nước vào lọ thủy tinh, đậy nắp, lắc mạnh và mở nắp để ngửi mùi.
- Vị: vị nước được xác định bằng phương pháp nếm tại nơi lấy mẫu.
- Màu: cho nước vào bình thủy tinh trắng và đặt lên tờ giấy trắng để xác định màu.
- Độ đục của nước được xác định bằng máy đo độ đục (Turbidity Meter – GB).
- Các chỉ tiêu hóa học được phân tích bằng máy phân tích nước model 975-MP.
- Các chỉ tiêu vi sinh được phân tích theo phương pháp thường quy.
- Đánh giá chất lượng nước sử dụng cho chăn nuôi heo theo 10TCN680-2006.

2.5. Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Minitab14.

4- Kết quả và bàn luận

3.1. Cách thức sử dụng nước

Xử lý nước trước khi sử dụng cho gia súc ăn, uống đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe, năng suất của đàn vật nuôi. Qua điều tra cho thấy với 44 trại trên địa bàn chỉ có 20,45% trại có xử lý nước, trong khi đó với 79,55% các trại khác không xử lý. Tỷ lệ trại có xử lý nước trước khi sử dụng cho chăn nuôi rất thấp theo chúng tôi chủ yếu do nguồn nước không có biểu hiện mất vệ sinh về cảm quan và được khai thác từ giếng do đó theo suy nghĩ của người chăn nuôi “đây là nguồn nước sạch”, bên cạnh đó sự quan tâm của người chăn nuôi đối với vệ sinh nguồn nước chưa đúng mức. Có rất nhiều phương pháp xử lý nước trước khi sử dụng. Tuy nhiên, người chăn nuôi sử dụng hai phương pháp xử lý nước là hóa học và lắng. Việc xử lý nước bằng phương pháp hóa học và phương pháp lắng chiếm tỷ lệ rất thấp lần lượt với 9,09% và 11,36%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhận xét của Nguyễn Thị Bích Thủy (1996): “các biện pháp xử lý nước chưa được coi trọng đúng mức”.

3.2. Chỉ tiêu vật lý


Qua Bảng 2 cho thấy các chỉ tiêu: nhiệt độ, độ đục, vị, màu sắc đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép. Nhiệt độ trung bình của nước là 22,660C; 38,81% mẫu nước có vị ngọt. Nước ngầm ở Tây Nguyên thuộc dạng Bicarbonat Natri-Calci-Magie từ đó có thể giải thích đây là nguyên nhân tạo nên vị ngọt của nước. Điều này cho thấy nước tại Buôn Ma Thuột thuộc dạng nước mát, hoàn toàn thích hợp để sử dụng cho chăn nuôi. Hiện tại, Việt Nam chưa xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh về độ đục của nước dùng cho chăn nuôi nhưng với độ đục trung bình trên toàn thành phố là 1,336NTU thì chất lượng này không những đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh sử dụng cho chăn nuôi mà còn đảm bảo sử dụng cho sinh hoạt, ăn uống của con người theo TCVN 5502:2003. Bên cạnh đó, 100% mẫu nước được kiểm tra không có biểu hiện bất thường về màu sắc và mùi. Như vậy qua các chỉ tiêu vật lý, nước sử dụng tại các trại chăn nuôi heo không có biểu hiện ô nhiễm. 

Ghi chú:- a,b: chữ giống nhau trong cùng một hàng thể hiện không khác biệt thống kê (P>0,05)
Độ pH của nước sử dụng chăn nuôi heo tại Buôn Ma Thuột ở mức độ trung tính (6,95). Kết quả này có phần khác với nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy cho biết pH của nước sử dụng cho chăn nuôi tại Buôn Ma Thuột năm 1990 trung bình là 7,25. Qua đây cho thấy nguồn nước tại Buôn Ma Thuột đang có xu hướng acid hóa. 
Hàm lượng DO trong nước  trung bình là 6,37mg/l. Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Đinh Việt Hưng &Cs. (2008) Cho biết hàm lượng DO trong nước ngầm tại một số vùng ven sông Cầu, Yên Dũng-Bắc Ninh trung bình là 4,4mg/l. Giữa các trại trong 3 vùng nghiên cứu có sự khác biệt (P<0,05) về hàm lượng DO, vùng III thấp nhất với 6,00mg/l. Tại vùng III, nguồn nước chủ yếu được khai thác từ các giếng khoan có độ sâu trung bình 42,76m, trong khi đó tại vùng I và II, nguồn nước được khai thác chủ yếu từ các giếng đào có độ sâu lần lượt 30,46m và 25,92m.
COD, BOD, NH3, NO3-, và Cl- là các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nguồn nước ngầm về mặt hữu cơ và đều nằm trong giới hạn cho phép, có hàm lượng lần lượt là: 1,81mg/l, 1,35mg/l, 2,03mg/l, 3,58mg/l và 56,26mg/l. Điều này cho thấy nguồn nước sử dụng chăn nuôi heo chưa có biểu hiện ô nhiễm về mặt hữu cơ. Hàm lượng COD thấp hơn so nước ngầm tại ven sông Cầu, Yên Dũng-Bắc Ninh trung bình 4,8mg/l (Đinh Việt Hưng & Cs., 2008) và nước sử dụng tại các trại chăn nuôi heo tai Hải Dương với hàm lượng 1,8-10,5mg/l (Vũ Đình Tôn & Cs.,2008).

Hàm lượng các loại kim loại Ca++, Cu, Zn, Pb, As có trong nước sử dụng cho chăn nuôi heo tại Buôn Ma Thuột đạt tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên, hàm lượng các kim loại này khá thấp do đó có thể gây hiện tượng thiếu một số khoáng quan trọng cho heo như bệnh về da, thiếu máu nếu heo được nuôi trong thời gian dài đặc biệt là heo nái sinh sản. Trong khi đó nghiên cứu về chất lượng nguồn nước ngầm tại một số vùng ven sông Cầu thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Ninh của Đinh Việt Hưng & cs. (2008) cho biết hàm lượng Cu, Zn, Pb, As trong nước lần lượt là 0,003mg/l, 0,07mg/l, <0,024mg/l và 0,0039mg/l.

3.5. Chỉ tiêu vi sinh vật

Bảng 5 nêu sự đánh giá tổng quát về chất lượng nguồn nước ngầm sử dụng chăn nuôi heo qua xét nghiệm các chỉ tiêu vi sinh vật.



Bảng 5 cho thấy số lượng mẫu vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với Coliform tổng số chiếm 31,82%. Các vùng nghiên cứu trên địa bàn thành phố có sự khác nhau rõ rệt về tỷ lệ nhiễm. Nguyên nhân gây ra sự khác biệt này là do: tại vùng II, I, các trại chăn nuôi heo đa phần sử dụng giếng đào với độ sâu trung bình thấp do đó dễ dàng tạo điều kiện cho sự nhiễm Coliforms tổng số. Theo Mwakio P.Tol (1997) khi nghiên cứu sự ô nhiễm nguồn nước ngầm vùng ven biển Kwele, Kenya cho biết: trong 125 mẫu nước phân tích thì có 100 mẫu nhiễm Coliforms tổng số vượt quá hàm lượng 30MPN/100ml.
Đối với chỉ tiêu Coliforms chịu nhiệt có 22 mẫu vượt quá tiêu chuẩn cho phép chiếm 50%. Điều này cho thấy 22 giếng có sự nhiễm bẩn từ các chất hữu cơ giàu dinh dưỡng (phân, chất thải hữu cơ). Giữa các vùng nghiên cứu có sự khác biệt về tỉ lệ nhiễm Coliforms chịu nhiệt, trong đó vùng II có tỉ lệ nhiễm cao nhất (71,43%), thấp nhất là vùng III (23,53%) (P<0,05). Nếu như số lượng các giếng bị nhiễm Coliforms chịu nhiệt lớn thì ngược lại tỷ lệ các giếng bị nhiễm Clostridium perfringens là thấp, trung bình toàn thành phố chiếm 18,18%. Giữa các vùng khác nhau có sự nhiễm Clostridium perfringens không giống nhau, lần lượt là 23,08% mẫu dương tính với vùng I, vùng II với 28,57% và vùng III là 5,88%.

5- Kết luận

- Phần lớn các trại chăn nuôi heo không thực hiện xử lý nước trước khi sử dụng cho chăn nuôi heo.
- Chưa thấy có sự ô nhiễm về nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi heo tập trung tại thành phố Buôn Ma Thuột đối với các chỉ tiêu vật lý, hóa học và kim loại.
- Tỷ lệ trại chăn nuôi heo không đạt tiêu chuẩn vệ sinh nguồn nước về Coliforms tổng số, Coliforms chịu nhiệt và Clostridium perfringens lần lượt là 31,82%, 50% và 18,18%.

SUMMARY

ASSESSING THE QUALITY OF WATER USING FOR RAISING PIG AT PIG FARMS IN BUON MA THUOT CITY

Nguyen Ngoc Dinh, Dinh Nam Lam, Nguyen Thi Van Anh, Truong Tan Khanh


The result of investigating 44 pig farms in Buon Ma Thuot city showed that: 35 pig farms of the total did not handle the water before using. The rest of the pig farms handled the water by mean of sedimentation and chemical treatment were 11.36% and 9.09%, respectively.
There was no contamination in the water that has been based on physics, chemistry, and metal indexes; however, there was a sign of the infected microorganisms in these wells used for raising pig. These indexes of Total Coliforms, Fecal Coliforms and Clostridium perfringens were high dramatically. The proportion of the pig farms was substandard of Total Coliforms, Fecal Coliforms and Clostridium perfringens index with 31.82%, 50%, and 18.18%, respectively. 
Keywords: Buon Ma Thuot city, pig farm, quality of water, water

6- TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Bộ Y tế - Viện vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên (2003), Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước.
2- Đinh Việt Hưng, Hà Mạnh Thắng, Trần Dũng (2008), hiện trạng chất lượng nước ngầm tại một số vùng ven sông cầu thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa.
3- Mwakio p. Tole (1997), “Pollution of groundwater in the coastal Kwale District, Kenya”,  IAHS Publ, (240), p 287-297.
4- Nguyễn Thị Bích Thủy (1996), Khảo sát chất lượng nguồn nước dùng cho chăn nuôi tại một số cơ sở chăn nuôi tại thành phố Buôn Ma Thuột, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp.
5- Tiêu chuẩn Ngành 10TCN680-2006, Tiêu chuẩn vệ sinh nước uống dùng trong chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
6- Vũ Đình Tôn, Lại Thị Cúc, Nguyễn Văn Duy, Đặng Vũ Bình (2008), “Chất lượng nước dùng trong trang trại chăn  nuôi heo ở vùng đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2008, Tập VI (3: 279-283), tr 279-283.








Comments (0)