ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ KHẢO SÁT NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ GIỐNG CỎ TRỒNG TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN EA KAR

Trương Tuấn Khanh, Trường Đại học Tây Nguyên


ĐẶT VẤN ĐỀ

Ea Kar là một Huyện nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, diện tích tự nhiên vào khoảng 103747 ha, dân số 150000 người, trong đó đồng bào dân tộc ít người chiếm khoảng 25%. Khoảng 70% dân số trong huyện kiếm sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp. Chăn nuôi đại gia súc là một trong những ngành sản xuất quan trọng của nông dân trong Huyện, thu nhập từ chăn nuôi bò chiếm khoảng 40% thu nhập của nông hộ chăn nuôi (Truong Tan Khanh, 2007). Trước đây, chăn nuôi trâu, bò chủ yếu theo phương thức truyền thống, nguồn thức ăn cho gia súc dựa hoàn toàn vào việc chăn thả trên đồng cỏ tự nhiên và một phần nhỏ từ phụ phẩm nông nghiệp. Việc gia tăng dân số và phát triển nông lâm nghiệp đã làm thu hẹp một cách đáng kể diện tích chăn thả, điều đó đã đưa người chăn nuôi rơi vào tình trạng khó khăn về thức ăn gia súc. Từ năm 2000, Khoa chăn nuôi thú y, Trường Đại học Tây Nguyên nhận được các tài trợ của các tổ chức Quốc tế ADB, IFAD và Viện chăn nuôi Quốc Gia đã tiến hành các dự án nghiên cứu và phát triển cỏ trồng trong chăn nuôi bò nông hộ tại Huyện. Theo đánh giá của Lãnh đạo và bà con nông dân huyên Ea Kar thì các dự án nói trên đã góp phần thay đổi các hệ thống chăn nuôi của Huyện theo hướng thâm canh và góp phần nâng cao đời sống của những người chăn nuôi nhỏ tại địa phương. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đánh giá tình hình phát triển và khảo sát năng suất, chất lượng một số giổng cỏ chủ yếu đang được trồng và sử dụng phổ biến tại địa phương.Mục tiêu của đề tài:- Đánh giá được tính bền vững và hiệu quả của các dự án chuyển giao công nghệ trồng cỏ tại địa phương;- Đánh giá năng suất và chất lượng của một số giống cỏ chủ yếu đang được nông dân chọn lựa và phát triển trong hệ thống canh tác của họ.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tương nghiên cứu

Đối tương nghiên cứu trong nghiên cứu là các hộ nông dân trồng cỏ và các giống cỏ hòa thảo đang được trồng và sử dụng trong nông hộ tại Ea Kar:Brachiaria ruziziensis x B. decumbens x B. brizantha artificial hybrids, Panicum maximum ’Simuang’; Pennisetum Purpureum ‘Napier’;VARISME số 6;Paspalum atratum ;Stylosanthes guianensis CIAT 184 ; 

Vật liệu nghiên cứu: 

- Hom giống các giống cỏ hòa thảo được tuyển chọn từ nông hộ - Phân bón các loại

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2007 (điều tra sự chấp nhận cỏ trồng trong nông hộ) đến tháng 12 năm 2010 (tiến hành các thí nghiệm khảo sát năng suất và chất lượng một số giống cỏ), trong khuôn khổ của dự án “Sự chấp nhận cỏ trồng” do IFAD tài trợ từ năm 2007 – 2010, tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá tình hình phát triển các giống cỏ trồng trong nông hộ tại Ea Kar đến năm 2010- Khảo sát năng suất, chất lượng một số giổng đang được trồng phổ biến trong nông hộ

Phương pháp nghiên cứu

Nội dung đánh giá tình hình phát triển cỏ trồng được thực hiện bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn nông hộ trồng cỏ bằng bảng câu hỏi, trong đợt điều tra toàn diện tất cả 255 thôn, buôn trong Huyện về sự chấp nhận cỏ trồng (forage adoption) năm 2007 và đợt điều tra cuối dự án 2010. Đánh giá năng suất chất lượng cỏ trồng được thực hiện bằng phương pháp bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng của nông hộ. Bốn giống cỏ cỏ sã, cỏ voi, VA06 và Mulato 2 được bố trí theo phương pháp phân lô với một yếu tố biến động là giống, các yếu tố phân bón, chu kỳ cắt… đồng đều như nhau.  Thí nghiệm được tiến hành lặp lại 3 lần trên 3 nông hộ khác nhau. Quy trình phân bón, chăm sóc và thu hoạch thực hiện trong thí nghiệm dựa trên kết quả điều tra các nông hộ thâm canh cỏ trồng tại địa phương năm 2007.Các chế độ chăm sóc, phân bón, tưới nước được áp dụng đồng đều như nhau ở tất cả các lô (theo kết quả điều tra thâm canh cỏ trong nông hộ 2007) như sau:
- Thiết lập đồng cỏ: Tất cả các giống đều được trồng bằng hom, bón lót 10 tấn phân chuồng, 60 kg P2O5/ha, 60kg K2O/ha, kích thước trồng cỏ sả: 40cm x 50 cm, cỏ VA06: trồng liên tục hàng cách hàng 70 cm);
- Đồng cỏ sản xuất: chu kỳ cắt 30 ngày trong mùa mưa và 45 ngày trong mùa khô, độ cao cắt 5cm (cỏ sả, Mulato 2) và 10 cm (cỏ voi, VA06), bón phân: 50kg N /ha sau mỗi lần cắt, mùa khô cỏ được tưới nước theo chu kỳ 10 ngày mỗi lần, tổng số lứa căt trong năm là 10 lứa.

Thành phần hóa học của các giống cỏ được phân tích tại phòng thí nghiệm Bộ môn Chăn nuôi trường Đại học Tây Nguyên, mẫu đại diện (sub sample) được lấy sau mỗi lần cắt ở chu kỳ cắt 30 ngày trong mùa mưa. 

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Các giống cỏ trồng trong nông hộ tại Ea Kar

Các nghiên cứu khảo sát tập đoàn 90 giống cây thức ăn nhiệt đới từ 1995 – 1999 của dự án FSP  đã chọn lựa được 20 giống thích nghi với điều kiện tự nhiên tại Đắk Lắk (Le Hoa Binh, Truong Tan Khanh, 1998). Năm 2000, chúng tôi đã tiến hành giới thiệu các giống nói trên để phát triển trong sản xuất của nông hộ tại huyện Ea Kar và tiến hành đánh giá giống cỏ thông qua sự chọn lựa của người sản xuất. Kết quả của quá trình chọn lựa nói trên là đến năm 2010 có 6 giống được nông dân chọn để trồng phục vụ chăn nuôi. Các giống đó bao gồm: Panicum maximum ’Simuang’ (cỏ sã); Pennisetum Purpureum ‘Napier’ (cỏ voi), Brachiaria ruziziensis x B. decumbens x B. brizantha artificial hybrids (Mulato 2), Paspalum atratum (cỏ lá), VARISME số 6 (VA06) và Stylosanthes guianensis CIAT 184 (stylo 184). Trong đó có ba giống được nông dân lựa chọn cao nhất là cỏ sả, cỏ voi và cỏ VA06, đây là những giống có tiềm năng suất cao, thích hợp với điều kiện thâm canh cao (Trương Tan Khanh, Nguyen Ngoc Anh, Werner Stur, 2011). Cỏ Mulato 2 là giống có tiềm năng phát triển trong các vùng đất đai kém màu mỡ, hạn hán nhưng đáp ứng rất tốt với việc thâm canh và cho năng suất khá cao, vì vậy mặc dù mới giới thiệu năm 2007, nhưng Mulato 2 đang được nhiều nông dân ở các vùng có đất không màu mỡ chấp nhận cao. Cỏ Paspalum là giống cỏ có tiềm năng năng suất không cao (10 – 15 tấn VCK/ha), tuy nhiên đây là giống có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện đất chua và úng nhẹ (W.W. Stur, P. M. Horne và cộng sự, 2003) nên cũng được nông dân ở các vùng có điều kiện tự nhiên như trên chấp nhận khá cao. Cỏ họ đậu stylo184 là giống cỏ đậu có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau, kể cả đất chua phèn nhẹ, có hàm lượng protein cao, tuy nhiên cỏ có năng suất thấp hơn các giống hòa thảo, khó thu cắt… nên vẫn chưa nhiều nông dân trồng và sử dụng Gần đây nhiều nông dân nuôi bò vỗ béo bắt đầu có xu thế trồng cỏ stylo và sử dụng nó như một thức ăn cung cấp protein quan trọng và rẻ tiền trong khẩu phần nuôi bò sinh trưởng hay vỗ béo.

Số lượng nông hộ trồng và sử dụng cỏ trồng trong chăn nuôi đến 2010

Từ 20 nông hộ trồng để đánh giá các giống cỏ thích nghi trong các hệ thống nông nghiệp của nông hộ năm 2000, đến năm 2010 đã có 3180 hộ trồng cỏ để chăn nuôi gia súc (bảng 2). Cỏ trồng đã trở thành một loại cây nông nghiệp quan trọng trong hệ thống canh tác của nông hộ có hiệu quả kinh tế cao, được đánh giá như là điểm khởi đầu để chuyển đổi chăn nuôi theo định hướng thị trường (Truong Tan Khanh, Werner, Nguyen Van Ha, 2008). So với năm 2007, số nông hộ trồng cỏ trong huyện tăng lên cả về số hộ và diện tích cỏ trong một nông hộ (số hộ tăng từ 2407 lên 3180 hộ, diện tích tăng 840 m2/hô lên 1309 m2/hộ). Điều này khẳng định được tính bền vững của cỏ trồng trong hệ thống nông nghiệp của địa phương.
Cỏ trồng được nông hộ sử dụng với các mục đích khác nhau (bảng 3). Phần lớn nông hộ (66,48%) trồng cỏ chủ yếu để bổ sung thêm thức ăn xanh cho bò vào ban đêm sau khi chăn thả, hoặc những ngày không chăn thả được, lúc bò cái mới đẻ… một số lượng không nhỏ nông hộ (8,60%) thâm canh cỏ trồng để vỗ béo bò thịt và 24,91% hộ trồng để nuôi thâm canh bò sinh sản (bảng 4). Tỷ lệ cỏ trồng trong khẩu phần thức ăn xanh ăn của các phương thức nuôi cũng rất khác nhau: nuôi nhốt trung bình 85% (từ 70 – 100%) thức ăn xanh là cỏ trồng, nuôi bán chăn thả khoảng 60% và trong phương thức chăn thả là 15%.

Cơ cấu diện tích các giống cỏ trồng trong nông hộ tại Ea kar

Hầu hết nông hộ không trồng chỉ một giống cỏ, mà trồng từ 2 giống trở lên, trung bình cơ cấu diện tích của các giống cỏ trồng trong nông hộ thể hiện trên bảng 4. Cỏ sả được trồng với diện tích cao nhất là 50% sau đó là cỏ voi và cỏ VA06 (33% và 16%), cỏ stylo, cỏ Mulato 2 chỉ chiếm 2%. 
Theo nhận xét của người chăn nuôi cỏ sả có thể thâm canh để cho năng suất cao, ngon miệng và chất lượng cao. Tuy nhiên cỏ sã có nhược điểm là cho năng suất rất thấp vào mùa ra hoa từ tháng 10 đến tháng 11. Cỏ voi và cỏ VA06 có đặc tính tương tự về năng suất nhưng tỷ lệ lá thấp, ưu điểm cỏ voi là có thể cho năng suất cao quanh năm nếu được tưới nước, bón phân đầy đủ vì vậy có thể khắc phục được tình trạng năng suất thấp của cỏ sả vào tháng 10 và tháng 11.
Kết quả điều tra về diện tích cỏ cần thiết cho một đầu gia súc trong sản xuất nông hộ (bảng 5) cho thấy: bò nuôi vỗ béo cần diện tích cỏ trồng là 830 m2/con để đảm bảo cung cấp 85% thức ăn xanh từ cỏ trồng trong khẩu phần hàng ngày, tương tự bò sinh sản cần hoảng 540 m2 cỏ thâm canh cho mỗi con để đảm bảo cung cấp 60% thức ăn xanh từ cỏ trồng.

Một số chỉ tiêu thâm canh cỏ trồng trong nông hộ tại Ea Kar

Kết quả điều tra về các hình thức trồng cỏ (bảng 6)  cho thấy, mức độ thâm canh cỏ trồng trong nông hộ rất khác nhau lệ thuộc vào điều kiện đât đai, kinh tế và mục tiêu sử dụng của nông hộ, số nông hộ trồng “quảng canh” chiếm 34%, số nông hộ này trồng cỏ chủ yếu dựa vào tự nhiên, không bón phân tưới nước vì vậy hiệu quả thường rất thấp.

Số đông nông hộ trồng có mức đầu tư ở mức “bán thâm canh”, những nông hộ này có đầu tư cho cỏ trồng khá về phân chuồng, phân hóa học, tưới nước nhưng ở mức thấp và không thường xuyên. Có 20% số nông hộ đầu tư cao cho cỏ trồng được xếp vào mức “thâm canh”, những hộ này trồng cỏ theo quy trình gới thiệu bởi các nhà kỹ thuật, thông thường đây là những hộ nuôi bò vỗ béo hay sinh sản theo kiểu nuôi nhốt hay bán chăn thả, thu nhập của họ từ chăn nuôi bò chiếm tỷ lệ cao trong thu nhập của gia đình.
Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật về mức đầu tư của nông dân trồng cỏ theo phương thức thâm canh được trình bày trên bảng 7, ở mức này nông dân cho biết có thể đạt năng suất cao trong cả mùa mưa và mùa khô, năng suất bền vững theo thời gian, thời gian sử dụng đồng cỏ kéo dài 5 – 6 năm mà chưa cần trồng lại. Để khảo sát năng suất và chất lượng của cỏ trồng trong điều kiện sản xuất thâm canh của nông hộ chúng tôi đã bố trí thí nghiệm khảo sát năng suất các giống cỏ trong điều kiện thâm canh nông hộ (sẽ trình bày trong phần sau).


Năng suất, chất lượng một số giống cỏ chủ yếu

Thí nghiệm chỉ tiến hành trên 4 giống cỏ trồng phổ biến trong nông hộ là cỏ sả, cỏ VA06, cỏ voi và cỏ Mualato 2.
Năng suất xanh của cả 4 giống cỏ trong thí nghiệm đều rất cao khi được thâm canh (bảng 8), trong đó cỏ VA06 cao hơn cả (đạt 314 tấn/ha/năm) trong điều kiện bón 50 kgN/ha và tưới nước trong mùa khô, tiếp đó là cỏ voi (332 tấn/ha/năm), cỏ sã (314 tấn/ha/năm) và thấp nhất là cỏ Mulato 2 (172 tấn/ha/năm). Có lẽ đây là tiêu chí quan trọng nhất để nông dân tập trung chọn lựa ba giống cỏ VA06, cỏ sả và cỏ voi để phát triển trong sản xuất trong điều kiện thâm canh. Sự sai khác về năng suất của 4 giống cỏ này là có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Năng suất cỏ trong thí nghiệm này của chúng tôi cao hơn so với các kết quả nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu long: cỏ sả 281 tấn/ha/năm; cỏ voi 312 tấn/ha/năm (Nguyễn Thị Hồng Nhân và cộng sự, 2006), cao hơn nhiều so với kết quả của Hoàng Đức Trường và cộng sự, 2005 nghiên cứu tại Bình Định (cỏ sả cho năng suất116 tấn/năm, cỏ voi 150 – 182 tấn/ha/năm) và cao hơn kết quả của Nguyễn thị Mùi và cộng sự, 2007, thí nghiệm trồng cỏ trong điều kiện có tưới nước trong mùa khô tại Ba Vì (năng suất cỏ voi có tưới nước là 263 tấn/ha/năm, cỏ sả 144 tấn/ha/năm). Năng suất của cỏ trong thí nghiệm này cao  hơn có lẽ chủ yếu là do mức độ thâm canh cỏ ở Ea Kar cao hơn và điều kiện đất đai khí hậu của các vùng khác nhau, trong khi cỏ có thể thu hoạch quanh năm tại Tây Nguyên thì ở phía bắc mùa rét không thu hoạch được…

Thành phần hóa học của cỏ trồng trong thí nghiệm

Kết quả phân tích thành phần hóa học của các giống cỏ trong thí nghiệm (bảng 9) cho thấy tỷ lệ protein thô trong cỏ sả, cỏ Mulato 2 đạt cao nhất là 11,02%, và 10,64% so với vật chất khô (sai khác không có ý nghĩa thống kê, p>0,05), cỏ voi và VA06 có tỷ lệ tương đương (tương ứng là 8,75% và 9,12% ) và thấp hơn đáng kể so với cỏ sả và Mulato 2 (p<0,05). Chúng tôi cũng tiến hành phân tích thành phần hóa học của hai giống cỏ ngoài thí nghiệm, nhưng đang được trồng trong một số nông hộ là cỏ lá và cỏ Stylo 184. Mẫu của hai giống này được lấy từ các vườn cỏ của nông hộ vào mùa mưa. Kết quả cho thấy tỷ lệ protein thô trong cỏ Stylo 184 khá cao (18,34%) và tỷ lệ protein thô của cỏ lá là thấp nhất trong các giống hòa thảo chỉ đạt 7,25%.

Năng suất vật chất khô của các giống cỏ sả, Mulato 2, VA06 và cỏ voi tương ứng là 56,99; 33,08; 64,71; 58,13 tấn/ha/năm (bảng 10). Tiềm năng năng suất các giống cỏ sả, Mulato 2, VA06 còn có thể thâm canh cao hơn nữa để thu năng suất cao, tiềm năng năng suất của cỏ voi có thể đạt tới 85 tấn VCK/ha/năm, cỏ sả 60 tấn VCK/ha/năm (Bruce Cook và cộng sự, 2005), tuy nhiên cỏ Mulato 2 trong thí nghiệm này đã vượt quá năng suất của giống (28 tấn VCK/ha/năm) ghi trong Tropical factsheet (Bruce Cook và cộng sự, 2005). Điều này cho chúng ta nhận xét mức đáp ứng của Mulato 2 với phân bón sẽ kém hiệu quả nếu chúng ta tiếp tục tăng mức đầu tư. Tương tự phần phân tích năng suất xanh, năng suất vật chất khô của các giống cỏ trong thí nghiệm cao hơn rất nhiều so với các tác giả nói trên tiến hành nghiên cứu cỏ voi và cỏ sả tại các vùng khác nhau: Ba Vì, Đồng bằng sông Cửu long và Bình Định (chỉ đạt từ 44 – 47 tấn/ha).  

Năng suất protein của các giống cỏ có sự khác nhau đáng kể, cỏ sả mặc dầu cho năng suất chất xanh khá thấp so với cỏ voi và đặc biệt là so với VA06, tuy nhiên năng suất protein  cao hơn đáng kể so với 2 giống này do tỷ lệ vật chất khô và tỷ lệ protein trong chất khô cao hơn. Năng suất protein của cỏ sả đạt 6,28 tấn/ha/năm, cỏ voi 5,30 và cỏ VA06 là 5,66 tấn/ha/năm (p<0,05). Đây cũng là lý do tại sao 100% nông dân nuôi vỗ béo bò trong huyện đều sử dụng cỏ sả và đều cho biết bò nuôi dưỡng bằng cỏ sả cho tăng trọng tốt hơn cỏ voi.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Kết luận

Phát triển cỏ trồng

Cỏ trồng đã và đang phát triển một cách bền vững trong nông hộ tại huyện Ea Kar, đến 2010 đã có 3180 hộ trồng (31% số hộ chăn nuôi) và sử dụng cỏ cho chăn nuôi. Cỏ trồng được đánh giá là điểm khởi đầu cho sự thay đổi các hệ thống chăn nuôi bò thịt tại Ea Kar theo hướng thâm canh, bền vững và hiệu quả.
Các giống cỏ 
Các giống cỏ được nông dân chọn lựa để phát triển trong sản xuất tại Ea Kar được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên như sau: cỏ sả, cỏ voi, cỏ VA06, Mulato 2, cỏ lá và cỏ stylo 184.

Năng suất và chất lượng

Cỏ VA06, cỏ sả, cỏ voi là những giống có khả năng cho năng suất rất cao trong điều kiện thâm canh, bón phân (50 kg N/lứa cắt) và tưới nước trong mùa khô, năng suất các giống này có thể đạt tương ứng là 64,71, 56,99 và 58,13 tấn VCK/ha/năm. Cỏ Mulato 2 cho năng suất thấp hơn ba giống nêu trên nhưng lại có tỷ lệ protein thô khá cao và thích ứng được với các vùng đất kém màu mỡ vì vậy đang được nông dân ở những vùng này quan tâm.

Đề nghị

Công nhận kết quả nghiên cứu nói trên, phát triển cỏ trồng trong nông hộ nhỏ tại các vùng khác nhau
Tiếp tục nghiên cứu chọn lựa các giống cỏ thich nghi và phù hợp với các vùng đất kém màu mỡ, đất chua phèn tại Việt Nam.

SUMMARY 

The paper was collected information from two study of forage adoption surveys in 2007 and 201, and an experiment to evaluate the yield and quality of four forage species: Panicum maximum ’Simuang’; Pennisetum Purpureum ‘Napier’, VA06, Brachiaria ruziziensis x B. decumbens x B. brizantha artificial hybrids. The objectives study were to evaluate the forage  adoption of small livestock keepers and to evaluate the yield and chemical combines of 4 forage species that high adoption by farmers in the area. The results of study were: 1) The forage production was sustainable development in Ea Kar, up to 2010, there were 3180 householders planted forages for their cattle production, 2) The forage species that farmers in Ea Kar selected for their production were: Panicum maximum ’Simuang’; Pennisetum Purpureum ‘Napier’, VA06, Brachiaria ruziziensis x B. decumbens x B. brizantha artificial hybrids, Paspalum atratum  và Stylosanthes guianensis CIAT 184, 3). The yield of these forage species were high in intensive production of farmers in Ea Kar (from 56,99 to 64,71 tons of DM per ha per year, 4) The crude protein content of Panicum maximum at cutting cycle 30 days was highest (11.02%) compared to other grass species in the experiment.



Comments (0)