Ảnh hưởng của bổ sung các nguồn Protein khác nhau trong thức ăn hỗn hợp của khẩu phần đến tăng khối lượng và hiệu quả kinh tế nuôi bò vỗ béo tại Ea Kar, Đắk Lắk
Ảnh hưởng của bổ sung các nguồn Protein khác nhau trong thức ăn hỗn hợp của khẩu phần đến tăng khối lượng và hiệu quả kinh tế nuôi bò vỗ béo tại Ea Kar, Đắk Lắk
Trương Tấn Khanh
Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Tây Nguyên
Tóm tắt
Nghiên cứu này được bố trí nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế nguồn thức ăn giàu protein trong khẩu phần thức ăn hỗn hợp 15,5% protein thô sử dụng để nuôi bò vỗ béo hai nhóm Laisind và F1 (LS x Br) là bột cá và bột lá cây họ đậu. Kết quả nghiên cứu cho thấy 1) thay thế hoàn toàn thức ăn giàu protein là bột cá bằng bột lá cây keo dậu không ảnh hưởng đáng kể đến lượng ăn vào và tốc độ tăng trọng của bò vỗ béo; 2) Vỗ béo bò thịt băng phương pháp cho ăn tự do cỏ hòa thảo và bổ sung thức ăn hỗn hợp có chứa 15,5% protein thô (cả hai khẩu phần bột cá và bột lá cây keo dậu) cho kết quả tăng trọng khá cao: bò Laisind đạt 795,22 – 801,33 gam/ngày và bò lai F1 (LS x Br) tăng từ 870,11 đến 882,33 gam/ngày; trong cả hai phương thức nuôi bò lai F1 (LS x Br) luôn có tăng trọng cao hơn so với bò Laisind hiệu quả kinh tế của hai lô sai khác không đáng kể.
Từ khóa: Ảnh hưởng, nguồn protein, bột cá, bột lá cây keo dậu, vỗ béo, Laisind, F1(LS x Br).
1. Đặt vấn đề
Nuôi vỗ béo bò đã và đang trở thành một nghề mang lại có hiệu quả kinh tế khá cao cho một số lượng không nhỏ nông hộ tại Ea Kar. Theo kết quả điều tra “sự chấp nhận cỏ trồng 2010” của dự án FAP cho thấy có khoảng 274 hộ đang nuôi vỗ béo bò trong Huyện, thu nhập trung bình từ vỗ béo bò của các nông hộ này ước tính 55% tổng thu nhập của nông hộ (Trương Tấn Khanh và cs., 2011). Bò vỗ béo thường được nuôi nhốt và cung cấp thức ăn tại chuồng, từ 80 -100% cỏ tươi được cung cấp từ cỏ trồng. Thức ăn tinh là nguồn thức ăn không thể thiếu được trong vỗ béo bò thịt. Các dự án trước đây như dự án Đa dạng hóa nông nghiệp, dự án Hệ thống chăn nuôi và sinh kế (LLSP) đã giới thiệu một số khẩu phần thức ăn hỗn hợp để nuôi vỗ béo, tuy nhiên những khẩu phần này đều có một nhược điểm chung là giá thành cao và sử dụng khá nhiều thức ăn động vật (bột cá). Để giúp đỡ nông dân có thêm các chọn lựa phù hợp vơi điều kiện sản xuất của mình, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh của bổ sung các nguồn Protein khác nhau trong thức ăn hỗn hợp của khẩu phần đến tăng khối lượng và hiệu quả kinh tế nuôi bò vỗ béo tại Ea Kar, Đắk Lắk.Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá ảnh hưởng của bổ sung các nguồn Protein khác nhau vào thức ăn hỗn hợp trong khẩu phần đến lượng thức ăn ăn vào, khả năng tăng khối lượng và hiệu quả kinh tế của nuôi vỗ béo bò thịt Laisind và bò lai F1(Laisind x Brahman),
Cung cấp các lựa chọn khác nhau để nông dân có thể chọn để áp dụng phù hợp với điều kiện sản xuất của họ.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bò Laisind (LS) và bò lai F1 giữa Laisind và Brahman (F1) từ 21 - 24 tháng tuổi.Vật liệu nghiên cứu: Các khẩu phần thức ăn hỗn hợp với nguồn proein khác nhau, kết quả phân tích thành phần hóa học của các thức ăn thí nghiệm trình bày trên bảng 1
Giá trị dinh dưỡng của các thức ăn khác sử dụng trrong thức ăn hỗn hợp được tính toán dựa trên số liệu trong bảng giá trị dinh dưỡng thức ăn do Viện Chăn nuôi công bố 2001.
Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Ea Kmut, huyện EaKar tỉnh ĐăkLăk.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 - 2010
Phương pháp nghiên cứu:
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu phân lô ngẩu nhiên. Bò thịt hai nhóm giống Laisind và F1(Br x LS) được nuôi với khẩu phần thức ăn xanh là cỏ sả, bổ sung thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ protein thô 15,5%, với nguồn cung cấp protein khác nhau là bột cá (khẩu phần 1) và bột lá cây họ đậu (khẩu phần 2). Sơ đồ bố trí như sau (bảng 2):
Thức ăn hỗn hợp tự trộn trên khẩu phần dựa vào các nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương, thức ăn năng lượng chủ yếu là cám gạo, ngô và bột sắn, nguồn cung cấp protein thô chủ yếu từ bột cá (khẩu phần 1) và bột lá keo dậu (khẩu phần 2). Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần: năng lượng trao đổi của cả hai khẩu phần xấp xĩ 2500 Kcal/kgVCK, protein thô là 15,5%.
Quy trình nuôi dưỡng bò thí nghiệm
Lô 1a, 1b: Cho ăn tự do cỏ sả và bổ sung thức ăn hỗn hợp tự trộn (TAHH1) có 15,5% protein thô, với nguồn protein từ bột cá, số lượng cho ăn tối đa 3kg/con/ngày.
Lô 2a, 2b: Cho ăn tự do cỏ sả và bổ sung thức ăn hỗn hợp tự trộn (TAHH2)có 15,5% protein thô, với nguồn protein từ bột lá keo dậu với số lượng tối đa 3kg.
Các chỉ tiêu theo dõi
Bò thí nghiệm đước nuôi cá thể, các chỉ tiêu theo dõi như sau:Lượng ăn vào: Lượng ăn vào của bò được theo dõi bằng cách cân lượng thức ăn cho ăn trong ngày và lượng thức ăn thừa vào sáng sớm hôm sau trước khi cho ăn thức ăn mới.
Khối lượng cơ thể: bò được cân vào buổi sáng khi chưa cho ăn, cân liên tục trong ba ngày để lấy số liệu trung bình.
Hiệu quả kinh tế
Các so sánh trong thí nghiệm:
- So sánh sinh trưởng của bò cùng một nhóm giống với các khẩu phần nuôi khác nhau;
- So sánh sinh trưởng của hai nhóm trong cùng khẩu phần nuôi giống nhau
Xử lý số liệu: Số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê trên phần mềm Minitab phiên bản 14, các số liệu trình bày trong báo cáo bao gồm số trung bình, sai số chuẩn (SE), sử dụng T-Test để so sánh các số trung bình với độ tin cậy 95%.
3. Kết quả và thảo luận
Lượng ăn vào của bò thí nghiệm
Lượng ăn vào của bò trong các lô thí nghiệm khác nhau được trình bày trên bảng 4:
Lượng ăn vào của bò ở hai nhóm giống khác nhau trong cùng một phương thức nuôi dưỡng có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05), bò Laisind luôn có lượng ăn vào thấp hơn so với bò F1. Lượng ăn vào của bò Laisind ở lô 1a là 7,10 so với bò F1 ở lô 1b là 8,01 và bò Laisind ở lô 2a là 7,13 kgVCK/ngày/con so với bò F1 ở lô 2b là 7,91 kgVCK/ngày/con. Sự sai khác này có lẽ chủ yếu là do khối lượng bò F1 cao hơn so với bò Laisind, mặt khác, bò F1 tiêu thụ thức ăn hỗn hợp cao hơn đáng kể so với bò Laisind.
Kết quả trên bảng 1 cũng cho thấy không có sự sai khác đáng kể về lượng ăn vào của bò cùng một nhóm giống khi nuôi 2 khẩu phần khác nhau. So sánh lượng ăn vào của bò Laisind nuôi ở 2 khẩu phần cho thấy lượng ăn vào ở 1a và 2a sai khác không có ý nghĩa (bò Laisind ở lô 1a là 7,10kgVCK/con/ngày so với lô 2a là 7,13 kgVCK/con/ngày). Tương tự như vậy lượng ăn vào của bò F1 ở 1b và 2b cũng có lượng ăn vào sai khác nhau không có ý nghĩa (p>0,05).
Tỷ lệ protein so với VCK ăn vào có giá trị từ 11,25% đến 11,39%, sai khác giữa các lô là không có ý nghĩa thống kê. Theo tiêu chuẩn ăn NRC, 1996, nhu cầu của protein cho bò vỗ béo cần từ 9,5 đến 11,5% (so với VCK ăn vào) để bò có thể đạt tăng trong từ 0,8 – 1,2 con/ngày, như vậy tỷ lệ protein trong khẩu phần thí nghiệm chúng tôi là đạt tiêu chuẩn. Tỷ lệ VCK ăn vào so với khối lượng cơ thể trong thí nghiệm của 4 lô từ 2,5 – 2,65%. Werner và Peter, 2000, cho biết bò vỗ béo khi cung cấp đầy đủ thức ăn chất lượng cao có thể ăn vào một lượng VCK tương ứng từ 2,5 – 3,0% so với khối lượng của cơ thể, như vậy trong thí nghiệm này lượng ăn vào của bò thí nghiệm đạt yêu cầu.
Khả năng tăng khối lượng của bò
Khả năng tăng khối lượng của bò thí nghiệm được trình bày trên bảng 5.
Xét ảnh hưởng của các nguồn protein khác nhau bổ sung vào khẩu phần đến tăng khối lượng của bò thí nghiệm chúng tôi thấy:
- Tăng khối lượng của bò Laisind ở hai lô 1a và 2a có sai khác không có ý nghĩa với p>0,05; lô 1a: 23,86 kg/tháng (tương ứng 795,22g/ngày), lô 2a: 24,04 kg/tháng (tương ứng là 801,33 g/ngày).
- Tăng khối lượng của bò F1 cũng có quy luật tương tự, sai khác giữa hai lô là không có ý nghĩa: 1b tăng trọng: 26,47 kg/tháng (882,33g/ngày); lô 2b: 26,10 kg/tháng (870,11g/ngày).
Kết quả này cho thấy việc thay thế tất cả protein từ bột cá trong khẩu phần bằng bột lá cây keo dậu (vẫn giữ nguyên hàm lượng protein của khẩu phần là 15,5%) không làm ảnh hưởng nhiều đến tốc độ tăng khối lượng của bò nuôi vỗ béo. Điều này có thể lý giải như sau: đối động vật nhai lại chất lượng protein không phụ thuộc nhiều vào sự có mặt đầy đủ và cân đối của các a xít amin không thay thế mà lệ thuộc phần lớn vào lượng Ni tơ trong khẩu phần cung cấp để vi sinh vật tổng hợp các a xít amin và protein. Trong trường hợp này tỷ lệ protein thô, năng lượng...của hai khẩu phần như nhau nên tốc độ tăng khối lượng của bò không sai khác nhau. Vũ Chí Cương và cs., 2007 thí nghiệm trên bò lai Brahman 18 tháng tuổi, khi cho ăn khẩu phần có hàm lượng protein thô 175g/1kg VCK với mức bột cá biến động từ 0%, 10%, 20%, 30% cho thấy tăng khối lượng giữa các lô 1 (0%) lô 3 (20%) và lô 4 (30%) có sai khác không có ý nghĩa, mức tăng khối lượng trung bình từ 625 – 705 g/ngày, điều đó cho thấy thay thế nguồn protein thô từ bột cá bằng các nguồn khác (hạt bông, u rê) không ảnh hưởng nhiều đến tăng khối lượng của bò. Kết quả tăng khối lượng trong thí nghiệm của chúng tôi cao hơn so với các thí nghiệm sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để vỗ béo bò của các tác giả Lê Viết Ly và cs., 1996; Vũ Văn Nội và cs., 1999; tăng trọng của bò vỗ béo trong các thí nghiệm này chỉ từ 0,51 đến 0,58kg/ngày và tương đương với kết quả nghiên cứu của Vũ Chí Cương và cs., 2007 (tăng khối lượng từ 730 – 845g/ngày).
Xét khả năng tăng khối lượng của bò từng nhóm giống cho thấy trong cùng một phương thức nuôi dưỡng bò lai Brahman luôn có tốc độ tăng khối lượng cao hơn so với bò Laisind: lô 1b (Laisind) có tốc độ tăng khối lượng là 26,47 kg/con/tháng trong khi bò ở lô 1a (Brahman) chỉ đạt 23,86 kg, tương tự như vậy đối với lô 2b có tốc độ tăng khối lượng là 26,10 kg/con/tháng so với lô 2a là 24,04kg/tháng, sai khác này là có ý nghĩa thống kê ở mức p<0,05.
Từ kết quả này cho thấy, nông dân hoàn toàn có thể phát triển cây cỏ họ đậu và sử dụng nó làm nguồn thức ăn cung cấp protein chủ yếu cho bò vỗ béo để giảm giá thành thức ăn chăn nuôi mà tăng trọng của bò không bị ảnh hưởng.
Hiệu quả sử dụng thức ăn
Kết quả đánh giá về hiệu quả sử dụng thức ăn của bò trong các lô thí nghiệm được trình bày trên bảng 6. Hệ số tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng trong thí nghiệm ở tất cả các lô từ 8,89 – 9,09 kg VCK cho 1 kg tăng trọng. Sai khác về hệ số tiêu tốn thức ăn của bò ở tất cả các lô là không đáng kể. Theo các nghiên cứu trước đây của Phạm Kim Cương và cs., 2001 cho kết quả là 6,3 – 7,9 kg VCK/1 kg tăng trọng, Vũ Chí Cương và cs., 2001 cho kết quả từ 6,2 – 15,9 kgVCK/1 kg tăng trọng, trong tiêu chuẩn NRC yêu cầu đạt 7,1 – 10,2 kgVCK/kg tăng trọng. Vũ Chí Cương và cs., 2007 có kết quả là 8,17 - 9,23 kgVCK/kg tăng trọng, kết quả của chúng tôi trong thí nghiệm này tương đương với kết quả nghiên cứu nói trên.
Ước tính hiệu quả kinh tế
Trong phần ước tính hiệu quả kinh tế này chúng tôi chỉ dựa trên các chi phí trực tiếp trong quá trình sản xuất bò thịt (thức ăn, lao động...) mà không tính được lao động quá khứ trên đồng cỏ và khấu hao tài sản cố định. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Lợi nhuận từ nuôi bò vỗ béo bằng khẩu phần sử dụng nguồn protein từ bột lá cây họ đậu cao hơn so với khẩu phần sử dụng bột cá. Lợi nhuận của lô 2a (bò Laisind sử dụng khẩu phần bột lá họ đậu) là 435.542 đồng/con/tháng, trong lúc đó lô 1a (bò Laisind sử dụng khẩu phần bột cá) chỉ đạt 370.912 đồng/con/tháng, tương tự như vậy lô 2b đạt 437.509 đồng/con/tháng, trong khi lô 1b chỉ đạt 356.062 đồng/con/tháng. Sự chênh lệch này chủ yếu do giá thành thức ăn hỗn hợp của 2 lô khác nhau: giá thành 1 kg thức ăn hỗn hợp cho bò ở khẩu phần một (sử dụng bôt cá) là 4.430 đồng/1 kg thức ăn, trong khi đó khẩu phần hai (sử dụng bột lá) là 3.495 đồng (bảng 7).
- So sánh hiệu quả vỗ béo giữa hai giống cho thấy sai khác về hiệu quả kinh tế giữa hai giống thể hiện không rõ rệt, bò lai Brahman mặc dầu có tốc độ tăng trọng cao hơn, chi phí thức ăn sai khác không đáng kể so với bò Laisind nhưng lợi nhuận không cao hơn bò Laisind. Kết quả theo dõi thí nghiệm chúng tôi nhận thấy bò lai Brahman luôn có mức tiêu thụ thức ăn hỗn hợp cao hơn so với bò Laisind nên chi phí thức ăn cao hơn.
- Giá trị ngày công nuôi vỗ béo bò trong nông hộ khá cao đạt từ 258250 đến 294499 đồng/ngày.
4. Kết luận và đề nghị
Kết luận
Thay thế nguồn thức ăn giàu protein từ bột cá sang bột lá cây họ đậu trong khẩu phần thức ăn hỗn hợp để nuôi bò vỗ béo không làm ảnh hưởng đến lượng ăn vào, tốc độ tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn của bò.Lượng thu nhận thức ăn của bò lai F1(LS x Br) trong cả hai khẩu phần luôn cao hơn so với bò Laisind. Ở lô một (khẩu phần bột cá) bò lai Brahman là 8,01 kgVCK/con/ngày, bò Laisind là 7,10 kgVCK/con/ngày; Ở lô hai (khẩu phần bột lá) bò lai Brahman là 7,91kgVCK/con/ngày trong khi đó bò Laisind là 7,13 kgVCK/con/ngày.
Bò thịt F1(Br x LS) vỗ béo bằng cách cho ăn tự do cỏ hòa thảo và bổ sung thức ăn hỗn hợp có chứa 15,5 protein thô cho tăng khối lượng 26,10 – 26,47 kg/con/tháng, cao hơn so với bò Laisind cho ăn cùng khẩu phần, bò Laisind đạt từ 23,86 đến 24,04 kg/con/tháng.
Lợi nhuận nuôi bò vỗ béo từ khẩu phần thức ăn hỗn hợp có nguồn protein từ bột lá cây họ đậu (khẩu phần 2) cao hơn so với từ bột cá (khẩu phần 1), lợi nhuận nuôi từ khẩu khẩu phần 1 từ 356.062 đến 356.062 đồng/con/tháng, khẩu phần 2 từ 435.542 đến 437.509 đồng/con/tháng.
Đề nghị
Công nhận kết quả nghiên cứu nói trên, khuyến khích nông dân trồng cỏ họ đậu, sản xuất bột lá và sử dụng làm thức ăn giàu protein trong khẩu phần vỗ béo bò.Tiếp tục nghiên cứu sử dụng hợp lý các nguồn thức ăn sẵn có, rẽ tiền khác trong khẩu phần nuôi bò thịt, tăng các lựa chọn kỹ thuật khác nhau và hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
ABSTRACT
Effect of supplementation of concentrate with different protein sources on live weight gain and economic efficiency of fattening beef cattle in Ea Kar, Dak LakThe study was designed to evaluate the effect of supplementation of concentrate with different protein sources on live weight gain and economic efficiency of fattening beef cattle (Laisind and crossbred F1 (LS x Br). The protein sources were from fish meal and legumes’ leaf meal. The legumes used were leaf meal of Leucaena leucocephala. The results of study showed:1) Replacing protein from fish meal by legume leaf meal in the concentrated feed for fattening cattle was not significant effect to body weight gain and feed intake of cattle; 2) Ad libitum high quality grass of Panicum maximum and supplying concentrate feed with 15.5% CP for fattening cattle, the body weight gain of Laisind was 795,22 – 801,33 gram/day and F1 (LS x Br) was 870,11 to 882,33 , 3) in both diets, the grow rate of F1 (LS x Br) was significant higher than Laisind but the benefit was not very different.
Keywords: Effect, Protein sources, fish meal, legume leaf meal, Laisind, F1 (LS x Br), Fattening.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung, Phạm Thế Huệ, 2001. Nghiên cứu sử dụng rĩ mật trong khẩu phần bò thịt. Các báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu khoa học 08-05. Trang 162 – 171.Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung, Phạm Thế Huệ, 2007. Ảnh hưởng của việc thay thế protein thoát qua (by-pass protein) trong khẩu phần đến khả năng tăng trọng và hiệu quả kinh tế của bê lai Brahman tại Đắk Lắk. Báo cáo trình bày tại hội nghị khoa học viện chăn nuôi 2007.
Phạm Kim Cương, Vũ Chí Cương,Vũ Văn Nội, Đinh Văn Tuyền, Nguyễn Thành Trung, 2001. Nghiên cứu sử dụng rơm lúa trong khẩu phần bò thịt. Các báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu khoa học 08-05. Trang 174 – 187.
Lê Viết Ly, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Phạm Kim CuwowngNguyeenx Quốc Đạt (1996). Nuôi bê lai hướng thịt bằng thức ăn bổ sung từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp tại miền Trung. Kết quả nghiên cứu khoa học 1994 – 1996, trang 135 – 140.
Vũ Văn Nôi, Phạm Kim Cương, Đinh Văn Tuyền, 1999. Sử dụng phụ phế phẩm và nguồn thức ăn sẳn có tại địa phương để nuôi vỗ béo bò. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, Huế 28 – 30 tháng 6 năm 1999. Trang 25 – 29.
Viện Chăn nuôi, 2001. Thành phần giá trị dinh dưỡng gia súc. gia cầm Việt Nam. Nxb nông nghiệp.
Tiếng Anh
Trương Tan Khanh, Nguyen Ngoc Anh, Werner Stur, 2011. Smallholder cattle fattening in Vietnam. Technical Advisory fo IFADWerner W. Stür and Peter M. Horne, 2000. Developing forage technologies with smallholder farmers. How to grow, manage and use forages.
2:31 AM |
Category: |
0
comments












Comments (0)