SỬ DỤNG BÃ SẮN CÔNG NGHIỆP TRONG VỖ BÉO BÒ THỊT
Trương Tấn Khanh
Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Tây Nguyên
SUMMARY
USING CASSAVA BAGASSE FROM INDUSTRIAL STARCH PROCESSING FOR FATTENING CATTLE
Truong Tan Khanh
The research was designed for evaluating effect of replacement of cassava meal by the dried cassava bagasse from starch processing factory in concentrate feed diet for fattening cattle and supply cassava bagasse silage for fattened cattle with the basic feed was ad libitum of young Panicum maximum grass. The result of research was show 1) the replacement up to 100% of cassava meal by dried cassava bagasse was not significant affect to the feed intake, growth rate of fattened cattle, while the benefit of cattle fattening was significant higher; 2) the supplication of cassava bagasse silage for cattle, that was ad libitum grasses, was significant improvement of feed intake, growth rate and benefit of fattening cattle.
Key words: Cassava bagasse, fattening, laisind cattle.
1- Mở đầu
Vỗ béo bò là một trong những hoạt động điển hình của nông dân huyện Ea Kar trong chuyển đổi sản xuất chăn nuôi nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa và định hướng thị trường (Truong Tan Khanh, và cs, 2011). Một trong những khó khăn của nông dân là chi phí thức ăn (TA) hỗn hợp cho vỗ béo khá lớn nên hiệu quả kinh tế không cao. Nhà máy chế biến tinh bột sắn Ea Kar trung bình mỗi năm chế biến khoảng 36 ngàn tấn tinh bột và ước tính lượng bã sắn tươi thải ra là 60.000 tấn/năm. Bã sắn trong mùa mưa không tiêu thụ được là nguồn ô nhiễm nặng nề từ các nhà máy chế biến bột sắn. Giá bã sắn khô thấp hơn 3 đến 5 lần so với bột sắn. Trong bã sắn tươi chứa khoảng 8 - 10% tinh bột, 15- 20% xơ thô (Bùi Quang Tuấn, 2005). Bã sắn ủ chua hoặc phơi khô là nguồn TA bổ sung có giá trị cho gia súc nhai lại (Ba và cs, 2006). Phương pháp ủ chua đã làm giảm hàm lượng HCN và kéo dài thời gian sử dụng (Ba và cs, 2006; Mai Thị Thơm và Bùi Quang Tuấn, 2006; Bùi Quang Tuấn, 2005; Danh and Preston, 1993). Vì vậy nghiên cứu chế biến và sử dụng bã sắn công nghiệp trong chăn nuôi bò có ý nghĩa về tận dụng nguồn TA sẵn có và giải quyết ô nhiểm môi trường do bã sắn gây ra tại các nhà máy chế biến bột sắn.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế bột sắn bằng bã sắn phơi khô trong khẩu phần TA hỗn hợp nuôi vỗ béo bò thịt;
- Đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng bã sắn ủ chua bổ sung cho bò nuôi vỗ béo;
- Đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng bã sắn đến hiệu quả kinh tế trong vỗ béo bò thịt.
2- Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1- Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại câu lạc bộ Chư Cúc, xã Ea Kmut, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
2.2- Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: bò đực lai Sind 20 – 24 tháng tuổi
Vật liệu nghiên cứu: bã sắn thu mua từ nhà máy chế biến sắn Ea Kar được chế biến theo hai phương pháp phơi khô và ủ chua yếm khí.
2.3- Bố trí thí nghiệm
2.4- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu thí nghiệm
Mỗi bò được nuôi và cho ăn riêng, các chỉ tiêu nghiên cứu được theo dõi trên từng cá thể:
- Thu nhận TA: theo dõi bằng cách đo lượng TA cho ăn và TA thừa mỗi ngày;
- Tăng trọng: cân bò bằng cân điện tử Rud Weight vào các buổi sáng khi chưa cho ăn, cân 3 ngày liên tục để lấy số liệu trung bình;
- Ước tính hiệu quả kinh tế: theo dõi chi phí và thu nhập trong suốt thời gian thí nghiệm.
3- Kết quả và bàn luận
3.1- Lượng thu nhận thức ăn
Kết quả trên Bảng 1 cho thấy:
- Cả 4 lô TN1, TN2, TN3, TN4 với việc bổ sung thêm TA hỗn hợp hoặc bã sắn ủ chua đều có tác dụng cải thiện lượng vật chất khô (VCK) ăn vào một cách đáng kể so với lô đối chứng (6,32 đến 6,77kg so với 5,59kg).
- Lô TN1 (bổ sung bã sắn ủ chua) có lượng VCK ăn vào cao hơn đáng kể so với các lô thí nghiệm bổ sung TA hỗn hợp (6,77kg so với 6,32kg), tuy nhiên lượng năng lượng trao đổi và protein ăn vào có sự sai khác không có ý nghĩa (p>0,05).
- Lô TN3 và TN4 với việc thay thế 50% và 100% bột sắn nguyên chất bằng bã sắn phơi khô có lượng VCK, năng lượng trao đổi và protein ăn vào sai khác nhau không có ý nghĩa.
- Tỷ lệ protein so với VCK ăn vào của 3 lô sử dụng TA hỗn hợp có 15,3% protein từ 11,11% - 11, 23% cao hơn đáng kể so với lô sử dụng bã sắn ủ chua (10%) và lô đối chứng (9,46%), đáp ứng nhu cầu protein cho bò vỗ béo theo tiêu chuẩn NRC 1996.
- Tỷ lệ VCK ăn vào so với khối lượng cơ thể của cả 4 lô thí nghiệm sai khác nhau không đáng kể (P<0,05) và cao hơn đáng kể so với lô đối chứng (p<0,05).
Nguyễn Hải Quân và Nguyễn Xuân Bã (2009) cho biết khi bổ sung lượng bã sắn ủ chua tăng lên thì lượng chất hữu cơ thu nhận của cừu tăng lên một cách đáng kể, do đặc tính ngon miệng và kích thích tính thèm ăn của gia súc. Werner W. Stür và Peter M. Horne (2000) cho biết lượng ăn vào lệ thuộc khá lớn vào tỷ lệ protein trong khẩu phần, khi bổ sung TA hỗn hợp có hàm lượng protein 15,3% ở lô TN2 và TN 3 đã làm tăng lượng ăn vào của bò thí nghiệm. Tiêu chuẩn ăn NRC 1996, cho biết nhu cầu của protein cho bò vỗ béo cần từ 9,5 đến 11,5% (so với VCK ăn vào) để bò có thể đạt tăng trong 0,8 – 1,2 kg/con/ngày, bò vỗ béo khi cung cấp đầy đủ TA chất lượng cao có thể ăn vào một lượng VCK tương ứng 2,5 – 3,0% so với khối lượng của cơ thể (Werner W. Stür và Peter M. Horne) như vậy trong thí nghiệm này lượng ăn vào của bò thí nghiệm đạt yêu cầu.
3.2- Tốc độ sinh trưởng
Kết quả theo dõi tăng trọng của bò thí nghiệm trên Bảng 4 cho thấy:
- Tốc độ tăng trọng của bò thí nghiệm của các lô thí nghiệm TN2, TN3, TN4 cao nhất (23,56kg và 24,05 kg/tháng), sai khác giữa các lô thí nghiệm này là không có ý nghĩa (p>0,05), điều này cho thấy việc thay thế đến 100% bột sắn trong khẩu phần bằng bã sắn phơi khô trong TA hỗn hợp có ảnh hưởng không đáng kể đến tăng trọng của bò. Giá trị dinh dưỡng bao gồm protein tiêu hóa và năng lượng trao đổi của bã sắn và bột sắn nguyên củ đối với gia súc nhai lại sai khác không nhiều lắm bột sắn có tỷ lệ protein thô là 2,91% và năng lượng trao đổi ME là 2586 Kcal/kg thức ăn và tỷ lệ tương ứng trong bã sắn là 1,99 và 2550 (Viện chăn nuôi, 2007)
- Bổ sung ad libitum bã sắn ủ chua cho bò vỗ béo trên nền TA xanh là cỏ trồng cung cấp tự do đã cải thiện tốc độ tăng trọng đáng kể so với lô chỉ cung cấp tự do cỏ trồng (21,67 kg/tháng so với 17,54 kg/tháng).
- Hệ số chuyển đổi TA của lô ĐC và lô bổ sung tự do cỏ trồng và bả sắn ủ chua sai khác không có ý nghĩa (9,56 so với 9,38 kgVCK/kg tăng trọng), và cao hơn đáng kể so với các lô bổ sung TA hỗn hợp.
- Các lô sử dụng TA hỗn hợp TN2, TN3, TN4 có hệ số chuyển đổi TA sai khác nhau không có ý nghĩa (từ 7,90 đến 8,07 kgVCK/kg tăng trọng).
So sánh với các kết quả nghiên cứu của một số tác giả vỗ béo bò bằng các khẩu phần khác nhau thì kết quả của thí nghiệm này tương đương hoặc cao hơn: Vũ chí Cương và cs (2007) nuôi vỗ béo bò F1(LaiSind x Brahman) với khẩu phần TA hỗn hợp 17,5% protein trên nền TA thô xanh là phụ phẩm nông nghiệp (rơm) cho tăng trọng 625 – 730 g/ngày (tương đương 18 – 22 kg/con/ngày). Kết quả của một số thí nghiệm sử dụng phụ phẩm nông nghiệp (rơm) để vỗ béo bò của các tác giả Lê Viết Ly và cs (1996), Vũ Văn Nội và cs (1999), tăng trọng của bò trong thí các nghiệm này chỉ đạt từ 0,51 đến 0,58 kg/ngày. Điểm khác biệt quan trọng với các thí nghiệm này là trong thí nghiệm của chúng tôi nền TA xanh là cỏ trồng chất lượng cao (11% protein) và cho ăn tự do tại chuồng. Với nền TA xanh này cho phép chúng ta có thể bổ sung các loại TA tinh có hàm lượng protein thấp để vỗ béo bò LaiSind.
3.3- Ước tính hiệu quả kinh tế
Việc tính toán hiệu quả kinh tế trong báo cáo chỉ ước tính các khoản chi thu trực tiếp (vốn mua giống, công lao động, các chi phí thuốc thú y …) trong quá trình sản xuất. Điều lý thú trong nghiên cứu này là việc bổ sung chỉ bã sắn ủ chua cho hiệu quả kinh tế khá cao so với các lô bổ sung TA hỗn hợp với tỷ lệ bã sắn khác nhau và lô chỉ ad libitum cỏ sã chất lượng cao. Việc thay thế tỷ lệ bã sắn phơi khô trong khẩu phần TA hỗn hợp từ 50 đến 100%, cho hiệu quả kinh tế cao hơn đáng kể so với khẩu phần sử dụng bột sắn nguyên củ (390.040 và 400.710 so với 373.660 VND/con/tháng) (?).
4- Kết luận
- Việc thay thế đến 100% bột sắn trong khẩu phần TA hỗn hợp nuôi vỗ béo bò thịt giống LaiSind trên nền TA thô xanh là cỏ sả, không làm ảnh hưởng đáng kể đến lượng thu nhận TA, sinh trưởng của bò thí nghiệm, trong khi đó lợi nhuận thu được từ vỗ béo bò cao hơn một cách đáng kể.
- Bổ sung tự do bã sắn ủ chua trên nền TA thô xanh là cỏ sã cắt 30 ngày tuổi, cải thiện một cách đáng kể đến lượng thu nhận vật chất khô TA, tăng trọng và hiệu quả kinh tế trong nuôi bò vỗ béo.
SUMMARY
USING CASSAVA BAGASSE FROM INDUSTRIAL STARCH PROCESSING FOR FATTENING CATTLE
Truong Tan Khanh
The research was designed for evaluating effect of replacement of cassava meal by the dried cassava bagasse from starch processing factory in concentrate feed diet for fattening cattle and supply cassava bagasse silage for fattened cattle with the basic feed was ad libitum of young Panicum maximum grass. The result of research was show 1) the replacement up to 100% of cassava meal by dried cassava bagasse was not significant affect to the feed intake, growth rate of fattened cattle, while the benefit of cattle fattening was significant higher; 2) the supplication of cassava bagasse silage for cattle, that was ad libitum grasses, was significant improvement of feed intake, growth rate and benefit of fattening cattle.
Key words: Cassava bagasse, fattening, laisind cattle.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ba NX, Van NH, Ngoan LD, Leddin CM, Doyle PT (2006). Cassava bagasse silage can be used as a supplement for cattle fed rice straw. XIIth AAAP Animal Science Congress 2006, Congress Proceedings - Abstracts pp. 671, Hosted by Korean Society of Animal Science & Technology, Federation of Korean Societies of Animal Science in Busan Korea (2006)
2. Danh LD and Preston TR (1993). Use of urea-ensiled cassava starch residue for intensive fattening of male cross bred dairy calve. In: Sustainable livestock production on local feed resources Proceeding of a National workshop-siminar held in the cities of Ha Noi and Ho Chi Minh, Viet Nam, november 22-27.Pp 61-63.
3- Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung, Phạm Thế Huệ (2007). Ảnh hưởng của việc thay thế protein thoát qua (by-pass protein) trong khẩu phần đến khả năng tăng trọng và hiệu quả kinh tế của bê lai Brahman tại Đắk Lắk. Báo cáo trình bày tại hội nghị khoa học viện chăn nuôi 2007.
4- Lê Viết Ly, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Quốc Đạt (1996). Nuôi bê lai hướng thịt bằng thức ăn bổ sung từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp tại miền Trung. Kết quả nghiên cứu khoa học 1994 – 1996, trang 135 – 140.
5- Vũ Văn Nôi, Phạm Kim Cương, Đinh Văn Tuyền (1999). Sử dụng phụ phế phẩm và nguồn thức ăn sẳn có tại địa phương để nuôi vỗ béo bò. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y, Huế 28 – 30 tháng 6 năm 1999. Trang 25 – 29.
6- Nguyễn Hải Quân, Nguyễn Xuân Bả (2009). Ảnh hưởng của mức bổ sung bã sắn ủ chua đến lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa và một số chỉ số môi trường dạ cỏ của cừu nuôi bằng rơm lúa. Tạp chí khoa học, Đại học Huế số 46, 2008.
7- Mai Thị Thơm, Bùi Quang Tuấn (2006). Sử dụng bã sắn ủ chua với cám đỗ xanh để vỗ béo bò thịt. Tạp chí Khoa hocc Kĩ thuât Nông nghiệp số 2 (2006).
8- Bùi Quang Tuấn (2005). Nghiên cứu ủ chua bã sắn làm thức ăn dự trữ cho trâu bò. Tạp chí chăn nuôi, số 9
9- Viên Chăn nuôi (2007) Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc, gia cầm Viêt Nam. Web: http://www.vcn.vnn.vn/Main.aspx?MNU=954&Style=1&ChiTiet=5384&search=XX_SEARCH_XX
10- Truong Tan Khanh, Nguyen Ngoc Anh, Werner Stur (2011). Smallholder cattle fattening in Vietnam. Technical Advisory fo IFAD
11- Werner W. Stür and Peter M. Horne (2000). Developing forage technologies with smallholder farmers. How to grow, manage and use forages.
2:59 AM |
Category: |
0
comments







Comments (0)