ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG CỎ TRỒNG TRÊN ĐẤT BẠC MÀU HUYỆN ĐẮK LẤP, ĐẮK NÔNG

Trương Tấn Khanh 
Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Tây Nguyên
tankhanh.dhtn@gmail.com

1- Mở đầu


Đắk R’Lấp là huyện phía Nam của tỉnh Đắk Nông, có độ cao trung bình trên 500m so với mặt biển. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11 và lượng mưa trung bình hàng năm 2570mm (Cục Thống kê tỉnh Đắk Nông, 2010). Nông nghiệp chủ yếu dựa trên cây công nghiệp lâu năm và cây lương thực. Đất đai đặc trưng bởi đất Bazan và đất đỏ vàng, bạc màu trên sườn dốc (Trần An Phong, 2007). Một phần khá lớn diện tích này là đất bạc màu, không thể hoặc trồng cây nông nghiệp kém hiệu quả, loại đất này phân bố chủ yếu tại hai huyện Đắk R’Lấp và Tuy Đức. UBND và sở KH&CN tỉnh Đắk Nông đã đề nghị Trường Đại học Tây Nguyên nghiên cứu chọn lựa các giống cỏ có thể thâm canh và phát triển trên các vùng đất này để phát triển chăn nuôi bò và các loại động vật ăn cỏ khác.

Thời gian 2008 – 2010 chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu đề tài có tên như trên.
Mục tiêu của đề tài: 
- Đánh giá năng suất, chất lượng các giống cỏ trong các điều kiện thâm canh khác nhau;
- Chọn lựa giống và kỹ thuật trồng thích hợp để phát triển cỏ trồng trong nông hộ ở những vùng này.

2- Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1- Đối tượng nghiên cứu

Các giống cỏ lựa chọn để  đánh giá trong thí nghiệm gồm: Penisetum pururium (cỏ voi), Panicum maximum TD58 (cỏ sả), Brachiaria ruziziensis x B. decumbens x B. brizantha artificial hybrids (cỏ Mualto 2), VARISME số 6 (cỏ VA06). 

2.2- Vật liệu nghiên cứu

- Hom giống các giống cỏ hòa thảo được tuyển chọn từ nông hộ ;
- Phân bón các loại.

2.3- Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô La tinh ngẫu nhiên với hai biến số là mức phân bón và chu kỳ cắt. Các chế độ chăm sóc, phân bón, tưới nước được áp dụng đồng đều như nhau ở tất cả các lô (theo kết quả điều tra thâm canh cỏ trong nông hộ 2007) như sau:
- Thiết lập đồng cỏ: Tất cả các giống đều được trồng bằng hom, bón lót 10 tấn phân chuồng, 60 kg P2O5/ha, 60kg K2O/ha, kích thước trồng cỏ sả: 40cm x 50 cm, cỏ VA06: trồng liên tục hàng cách hàng 70 cm);
- Đồng cỏ sản xuất: chu kỳ cắt 30 ngày trong mùa mưa và 45 ngày trong mùa khô, độ cao cắt 5cm (cỏ sả, Mulato 2) và 10 cm (cỏ voi, VA06); bón phân: có 3 mức bón khác nhau ứng với mỗi chu kỳ cắt là 0; 50; và 100 kg nitơ/ ha sau mỗi lần cắt; tưới nước mùa khô cỏ được tưới nước theo chu kỳ 10 ngày mỗi lần. 
- Một số thành phần hóa học (vật chất khô và protein thô) của các giống cỏ được phân tích tại phòng thí nghiệm Bộ môn Chăn nuôi trường Đại học Tây Nguyên, mẫu đại diện (sub sample) được lấy sau mỗi lần cắt ở chu kỳ cắt 30 ngày trong mùa mưa.
- Tổ chức các hội thảo trên đồng ruộng cùng với nông dân và khuyến nông để đánh giá các giống và kỹ thuật canh tác thich hợp.

3- Kết quả và bàn luận

3.1- Đặc điểm điều kiến tự nhiên nơi nghiên cứu

3.1.1- Đặc điểm thổ nhưỡng


Đặc điểm của đất chủ yếu là đất vàng trên đất dốc, bạc màu. Các đặc điểm chủ yếu bao gồm: mùn thấp (2,27%), nghèo Nitơ (0,08%), nghèo lân dễ tiêu (0,8 mg%), pH thấp (4,06). Nhìn chung, đất bạc màu điển hình trên triền dốc tại Đắk R’Lấp có thành phần dinh dưỡng nghèo. Hầu hết các chỉ tiêu hóa học và vật lý đều giới hạn đối với các loại cây thức ăn có năng suất cao.
Lượng mưa trung bình tại Đắk R’Lấp khá cao, đạt tới 2515mm (trung bình 5 năm 2005 – 2009). Mùa mưa kéo dài 7 – 8 tháng, từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô ngắn (4 tháng). Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển hầu hết các loại cây nông nghiệp, đặc biệt là đối với cỏ trồng. Hầu hết các giống cỏ và cây thức ăn xanh cho năng suất cao trong điều kiện có đủ lượng mưa cần thiết và thích nghi với điều kiện mùa khô ngắn dưới 6 tháng.

3.2- Năng suất của cỏ trồng trong thí nghiệm


Kết quả theo dõi năng suất xanh của các giống cỏ ở các mức phân bón và chu kỳ cắt khác nhau được trình bày trên Bảng 3.
Mặc dầu bón lót phân chuồng ở mức 10 tấn/ ha, trong điều kiện không bón ni tơ sau mỗi lần cắt, năng suất của hầu hết các giống cỏ trong thí nghiệm đều rất thấp. Trừ cỏ Mulato 2 có tỷ lệ cỏ sống sót khá tốt và cho năng suất chất xanh đạt 34 – 37 tấn/ha/năm, các giống còn lại (cỏ sả, cỏ voi và VA06) đều sinh trưởng rất kém và tỷ lệ sống sót sau hai năm là rất thấp, năng suất chất xanh chỉ đạt từ 8,13 đến 14,93 tấn/ha/năm.  Năng suất thấp của các giống cỏ này không chỉ do đất nghèo dinh dưỡng mà chủ yếu là do tỷ lệ chết cao, đặc biệt sau mỗi mùa khô. Kết quả này cũng cho thấy, trên đất bạc màu tại Đắk R’Lấp nếu không bón phân thì việc thiết lập các giống cỏ cao sản như cỏ voi, VA06 và cỏ sả là không thể thực hiện được.




Khi tăng mức phân bón lên mức 50 ni tơ/ha sau mỗi lần cắt thì năng suất của cỏ tăng lên gấp nhiều lần so với không bón phân. Ở mức bón 50 kg ni tơ cỏ Mulato 2 tiếp tục cho năng suất chất xanh cao nhất, đạt 121,32 tấn/ha/năm (chu kỳ cắt 45 ngày) đến 125,24 tấn/ha/năm (chu kỳ cắt 30 ngày). Các giống cỏ sả, cỏ voi và VA06 cung cho năng suất khá cao, tương ứng là cỏ sả 108,33 và 106,25 tấn/ha/năm, cỏ voi là 107,20 và 105,17 tấn/ha/năm và VA06 là 105,05 và 102,35 tấn/ha/năm, sai khác về năng suất xanh của Mualato và 3 giống còn là có ý nghĩa (p<0,05). Tuy nhiên, ở mức bón khá cao này tất cả các giống cỏ này đều có năng suất thấp hơn rất nhiều so với tiềm năng di truyền của phẩm giống: cỏ sả, mulato 2 có thể đạt tới 250 tấn/năm, cỏ voi, đạt 300 tấn/năm (Bruce Cook và cs, 2005).
Trong thí nghiệm này, chúng tôi tiếp tục tăng mức phân bón lên mức rất cao là 100kg nitơ/ 1 ha sau mỗi lần cắt, kết quả cho thấy tất cả các giống đều tiếp tục đáp ứng cao với phân bón và năng suất chất xanh tiếp tục tăng cao. Mức tăng trung bình năng suất của mỗi giống tăng từ 1,2 đến 1,6 lần so với mức bón 50 kg ni tơ sau mỗi lứa cắt. Ở mức bón 100kg ni tơ năng suất xanh của cỏ VA06 là cao nhất đạt từ 192,75 tấn/ha/năm (chu kỳ cắt 45 ngày) đến 201,25 tấn/ha/năm (chu kỳ cắt 30 ngày). Tiếp theo là năng suất xanh của cỏ sả đạt (từ 166,80 đến 180,50 tấn/ha/năm) và cỏ voi đạt (169,45 đến 179,85 tấn/ha/năm).
Sai khác về năng suất chất xanh giữa hai chu kỳ cắt 30 và 45 ngày của 2 mức bón 0kg nitơ và 50kg nitơ/ha/lần cắt là không có ý nghĩa (p>0,05) ở tất cả các giống, trong khi đó ở mức bón 100 kg ni tơ thì năng suất xanh của tất các giống ở chu kỳ cắt 30 ngày cao hơn so với chu kỳ cắt 45 ngày (p<0,05).

3.3- Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm

Trong thí nghiệm chúng tôi chỉ tiến hành phân tích 2 chỉ tiêu  chủ yếu là vật chất khô  (VCK) và protein thô. Tỷ lệ VCK của các giống cỏ ở 30 ngày tuổi trong khoảng 19,5% (VA06) đến 22,05% (Mulato 2) tỷ lệ này thấp đáng kể ở chu kỳ cắt 45 ngày (24,00 đến 25,56%). Protein thô của cỏ sả và Mulato đạt cao nhất, cỏ sả với chu kỳ cắt 30 ngày là 12,46%, Mulato là 10,20% và thấp nhất ở cỏ voi và cỏ VA06 ở chu kỳ cắt 45 ngày (7,25 và 7,6%).

3.4- Năng suất vật chất khô



Năng suất VCK cũng có quy luật tương tự năng suất xanh khi tăng mức bón phân từ 0 lên 50 và 100 kg ni tơ/ha/lần cắt (Bảng 5). Ở mức bón 50 kg ni tơ, Mulato 2 cho năng suất VCK vượt trội hơn cả: ở chu kỳ cắt 30 ngày Mulato có năng suất VCK là 27,55 tấn/ha/năm, cao hơn đáng kể so với 19,96 (VA06); 21,03 (cỏ voi) và 22,31 tấn/ha/năm (cỏ sả). Ở mức bón 100 kg ni tơ thì VA06 là giống có năng suất VCK cao nhất, ở chu kỳ cắt 45 ngày có thể đạt 45,3 tấn/ha/năm, trong khi cỏ sả đạt 42,62 tấn, cỏ voi: 40,67 tấn và cỏ mulato chỉ đạt 36,30 tấn (p<0,05).



Khác với năng suất xanh, ở cả hai mức bón phân 50 và 100kg nitơ, năng suất VCK ở chu kỳ cắt 45 ngày đều cao hơn một cách có ý nghĩa so với chu kỳ cắt 30 ngày.
Năng suất protein thô của các giống cỏ ở mức bón 100kg nitơ đạt 2,95 – 4,37 tấn/ha/năm. Cỏ sả là giống luôn đạt năng suất protein cao nhất.
Năng suất cỏ trong thí nghiệm của chúng tôi thấp hơn so với các kết quả nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu long: cỏ sả 281 tấn/ha/năm; cỏ voi 312 tấn/ha/năm (Nguyễn Thị Hồng Nhân và cs, 2006), tương đương với kết quả của Hoàng Đức Trường và cs (2005) nghiên cứu tại Bình Định (cỏ sả đạt 116 tấn/năm, cỏ voi 150 – 182 tấn/ha/năm) và kết quả nghiên cứu của Nguyễn thị Mùi và cs (2007), trồng cỏ trong điều kiện có tưới nước trong mùa khô tại Ba Vì (cỏ voi có tưới nước là 263 tấn/ha/năm, cỏ sả 144 tấn/ha/năm).

1- Kết luận

Trên đất đỏ vàng bạc màu ở Đắk R’Lấp:
- Trong điều kiện không bón phân, trừ cỏ Mualto 2, các giống cỏ sả, cỏ voi và cỏ VA06 đều không thể thiết lập được và cho năng suất rất thấp.
- Tuy nhiên trong điều kiện thâm canh thì cả 4 giống cỏ nói trên đều cho năng suất khá cao. Trong điều kiện thâm canh trung bình (bón 50 kg ni tơ/ha/lần cắt) cỏ Mulato là giống có tiềm năng cho năng suất cao hơn các giống khác.
- Tăng mức bón từ 50 đến 100 kg ni tơ/ha mỗi lần cắt, cả 4 giống đều tiếp tục tăng năng suất và có đáp ứng cao với phân bón.
- Chu kỳ cắt 45 ngày cho năng suất VCK cao hơn so với chu kỳ cắt 30 ngày, trong khi năng suất chất xanh không có sai khác nhiều giữa hai chu kỳ cắt. 5) Cỏ sả và cỏ Mulato có tỷ lệ protein thô cao hơn đáng kể so với cỏ voi và VA06.

SUMMARY

EVALUATION OF THE YIELD AND QUALITY OF SOME GRASS VARIETIES PLANTING ON MARGINAL LAND IN DAK R’LAP DISTRICT, DAK NONG


Truong Tan Khanh

The experiment was designed to evaluate the yield and quality of potential varieties of grasses: Penisetum pururium, Panicum maximum TD58, Brachiaria ruziziensis x B. decumbens x B. brizantha artificial hybrids and VARISME number 6 on marginal land in Dak RLap district in different levels of intensive investment. The results of the experiment showed: 1) in extensive management, except Mulato 2, it was very difficult to establish grass field for other remain varieties and the yield of them were very low; 2) However, in the intensive which supplied 50 and 100 kg of nitrogen/ha/cutting all the varieties in experiment can provide high yield; 3) In medium level of intensive the Mulato 2 was the most potential in both yield and quality; 4) When increasing the level of fertilizer from 50 – 100 kg all the varieties in the experiment were still high responding with fertilizer the yield was continuously increasing; 5) The dried matter yield of all varieties in cutting cycle 45 days was higher than those at 30 days; 6) Crude protein of Panicum maximum and Mualato 2 was higher than those in elephant grass and VA06.
Key words: Evaluation, yield, quality, forage varieties

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Bruce Cook, Bruce Pengelly, Stuart Brown, John Donnelly, David Eagles, Arturo Franco, Jean Hanson4, Brendan Mullen, Ian Partridge, Michael Peters, Rainer Schultze-Kraft. (2005). Tropical Forages: An Interactive Selection Tool.
2- Cục Thống kê Tỉnh Đắk Nông (2010) Niên giám thống kê Đăk Nông 2009, 2010.
            http://www.tropicalforages.info/key/Forages/Media/Html/About_us.htm
3- Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đông, 2007. Xác định cơ cấu thích hợp trong cơ cấu sản xuất cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây họ đậu cho chăn nuôi bò sữa tại các vùng sinh thái khác nhau. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi 2007.
4- Nguyễn Thị Hồng Nhân, Nguyễn Văn Hớn, Nguyễn Thiết, Nguyễn Thị Mùi (2006). Khảo sát khả năng thich nghi, sinh trưởng và tính năng sản xuất cỏ Paspalum atratum tại Đồng bằng sông Cửu long. Báo cáo khoa học Viện chăn nuôi, 2006.
Trần An Phong (2007). Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý làm cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững tại tỉnh Đắk Nông.
6- Hoàng Đức Trường, Nguyễn Trung Thịn, Cao Cự Cường, Đoàn Trọng Tấn, Lê Hòa Bình, 2005. Nghiên cứu chọn lọc và nhân giống cây thức ăn chăn nuôi tại tỉnh Bình Định. Báo cáo khoa học Hội đồng Chăn nuôi 2005.





Comments (5)

On February 4, 2015 at 10:24 AM , Unknown said...
This comment has been removed by the author.
 
On February 4, 2015 at 10:25 AM , Unknown said...
This comment has been removed by the author.
 
On February 4, 2015 at 10:26 AM , Unknown said...

CÂY XANH CHẤT LƯỢNG

 
On February 4, 2015 at 10:26 AM , Unknown said...

CÂY XANH CHẤT LƯỢNG

 
On March 12, 2015 at 7:30 PM , Unknown said...

Bài viết rất hay, rất hữu ích. Cảm ơn bạn đã chia sẻ thông tin.
------------------------------------
Ms Nga –Nghiệp Vụ vé - SacoJet.vn

Tel: 0938 172 672 - 090 262 1479 – 1900 63 6479
Thông Tin:Mua vé tàu đi Phú Quốc hay đặt vé máy bay Vietjet Air đi du lịch Phú Quốc
Website đặt vé trực tuyến: www.SacoJet.vn