Ảnh hưởng của bổ sung cỏ Stylo vào khẩu phần cỏ sả đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò thịt tơ
Ảnh hưởng của bổ sung cỏ Stylo vào khẩu phần cỏ sả đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò thịt tơ
Trương Tấn Khanh
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Tây Nguyên
Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc cho ăn tự do (ad libitum) hỗn hợp cỏ stylo 184 và cỏ sả theo tỷ lệ 3:1 đến sinh trưởng của 2 nhóm bò: Laisind và bò F1 (LS x Br) so với việc chỉ nuôi bò bằng cỏ sả. Kết quả cho thấy 1) bổ sung cỏ stylo vào khẩu phần cỏ sả theo tỷ lệ 1:3 cải thiện một cách đáng kể lượng ăn vào của bò nuôi sinh trưởng ở cả 2 nhóm, lượng ăn vào tăng 22 – 23% so với khẩu phần chỉ có cỏ sả; 2) Bò Laisind nuôi dưỡng bằng cỏ sả tự do có tốc độ sinh trưởng khá cao (648,11 gam/ngày) và cao hơn đáng kể so với bò lai F1 (LS x Br), trong khi đó ở lô cho ăn tự do hỗn hợp cỏ stylo và cỏ sả theo tỷ lệ 1:3 thì bò lai cho tăng khối lượng cao hơn; 3) Tốc độ tăng khối lượng của cả hai nhóm bò ở lô cho ăn tự do cỏ hỗn hợp cao hơn so với lô chỉ cho ăn cỏ sả (765,22gam/ngày so với 648,11 gam/ngày ở bò Laisind và 789,11 gam/ngày so với 570 gam/ngày đối với F1(Br x LS); 4) Giá thành để sản xuất một kg thịt bò hơi bằng cách cho ăn tự do cỏ hòa thảo hoặc hỗn hợp cỏ hòa thảo và cỏ stylo khá thấp (14.000 đến 16.900 đồng so với so với giá cả thị trường cùng lúc ( 35.000 đến 40.000 đồng)
Từ khóa: Ảnh hưởng, Stylo184, cỏ sả, bò sinh trưởng, Laisind, F1(LS x Br)
1. Đặt vấn đề
Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng nuôi vỗ béo bò thịt tại huyện Ea Kar năm 2007 của dự án FAP cho thấy, phần lớn nông dân vỗ béo bò theo phương thức mua bò gầy, bò trưởng thành có sẵn tầm vóc lớn về vỗ béo bằng cách cung cấp đầy đủ thức ăn xanh và bổ sung thức ăn tinh giàu năng lượng chủ yếu là bột sắn. Bò chỉ nuôi trong một thời gian ngắn 1 – 2 tháng, tận dụng pha sinh trưởng bù, và bán ngay sau khi đủ độ béo. Cách làm này đạt lợi nhuận khá cao, tuy nhiên khi nhiều người cùng tham gia và nguồn bò gầy trở nên khan hiếm thì hệ thống sản xuất này gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bò gầy để vỗ béo. Một bộ phận khá đông các nông hộ vỗ béo bò chuyển sang trồng cỏ, nuôi bê lai để cung cấp bò thịt cho các thị trường thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Nha Trang… (Truong Tan Khanh và cs., 2010) Các giống bò thường sử dụng trong hệ thống này là bò Lai sind, hoặc bò lai giữa Lai sind với các giống bò ngoại (chủ yếu là Brahman, Drought Master, Red Angus và Limousine). Bò thường được nuôi thành hai giai đoạn: 1) giai đoạn nuôi sinh trưởng bắt đầu từ 6 (hoặc 12) tháng tuổi đến 18 – 21 tháng tuổi, 2) giai đoạn vỗ béo kéo dài 2 - 3 tháng và thường bán bò lúc 24 – 26 tháng. Vấn đề của người chăn nuôi lúc này là kỹ thuật nuôi dưỡng thích hợp để nuôi sinh trưởng bò lai có hiệu quả. Trong khuôn khổ của dự án FAP chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài bổ sung cỏ stylo vào khẩu phần cỏ sả nuôi sinh trưởng bò lai từ 18-21 tháng tuổi.Mục tiêu của nghiên cứu: Đánh giá ảnh hưởng của bổ sung cỏ Stylo vào khẩu phần cỏ sả đến lượng thức ăn ăn vào, khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò giai đoạn 18-21 tháng tuổi.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bò Laisind (LS) và bò lai F1 giữa Laisind và Brahman (F1) từ 18 – 21 tháng tuổi. Vật liệu nghiên cứu: Các khẩu phần ăn dựa trên nền thức ăn là cỏ trồng bao gồm cỏ sả (Panicum maximum) và cỏ stylo 184 (Stylosanthes guianensis CIAT184). Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn trong thí nghiệm trình bày ở bảng 1.
Địa điểm nghiên cứu:Tại xã Ea Kmut, huyện EaKar, tỉnh ĐăkLăk.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 - 2009
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô với hai khẩu phần ăn và hai nhóm giống bò đang nuôi phổ biến tại huyện Ea Kar.
Quy trình nuôi dưỡng bò thí nghiệm
- Lô 1a, 1b: Cho ăn tự do cỏ sả (ad libitum): cỏ sả thu ở 30 ngày tuổi, được cắt nhỏ 10 – 15 cm và cung cấp thường xuyên suốt ngày đêm (luôn có cỏ đầy trong máng ăn).
- Lô 2a, 2b: Cho ăn tự do hỗn hợp cỏ sả và cỏ Stylo 184 (Stylosanthes guianensis CIAT184) được trộn theo tỷ lệ 3:1 tính theo khối lượng tươi và cung cấp tự do cả ngày và đêm.
Các chỉ tiêu theo dõi
Bò thí nghiệm được nuôi cá thể, các chỉ tiêu theo dõi như sau:
Lượng ăn vào: Lượng ăn vào của bò được theo dõi bằng cách cân chính xác lượng thức ăn cho ăn trong ngày và lượng thức ăn thừa vào sáng sớm hôm sau trước khi cho ăn thức ăn mới.
Khối lượng cơ thể: bò được cân vào buổi sáng khi chưa cho ăn, cân liên tục trong ba ngày để lấy số liệu trung bình. Trong thí nghiệm này bò được cân 2 lần: khi bắt đầu và kết thúc thí nghiệm.
Trong đó W1, W2 là khối lượng bò thí nghiệm lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm; T1 và T2 là thời gian bắt đầu và kết thúc thí nghiệm.
Các so sánh trong thí nghiệm:
1. So sánh sinh trưởng của cùng một loại bò với các khẩu phần nuôi khác nhau;
2. So sánh sinh trưởng của hai loại bò trong cùng khẩu phần nuôi giống nhau
Xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê trên phần mềm Minitab phiên bản 14, các số liệu trình bày trong báo cáo bao gồm số trung bình, sai số chuẩn (SE), sử dụng T-Test để so sánh các số trung bình với độ tin cậy 95%.
3. Kết quả và thảo luận
Lượng ăn vào của bò thí nghiệm
Kết quả theo dõi chỉ tiêu về lượng ăn vào cho thấy bổ sung cỏ Stylo vào khẩu phần với tỷ lê 25% đã làm tăng lượng ăn vào của gia súc. Bò ở cả hai giống Laisind và F1(LSxBr) ở lô có bổ sung cỏ Stylo có lượng ăn vào cao hơn một cách có ý nghĩa so với bò ở lô chỉ cho ăn cỏ sả (p<0,05).
Lượng ăn vào lô 2a và 2b (có bổ sung stylo 184) là 7,00 kg và 7,19 kg VCK/con/ngày, trong khi lượng ăn vào tương ứng của lô 1a và 1b (chỉ bổ sung cỏ sả) chỉ 5,73 và 5,83 kg VCK/con/ngày (tăng 22%). Tương tự như vậy, lượng protein của bò Laisind và bò F1(LSxBr) ở lô có bổ sung cỏ Stylo cao hơn một cách có ý nghĩa (p<0,05) so với lô không bổ sung (bảng 3). Tỷ lệ proein thô trong VCK ăn vào của các lô như sau: lô 1a và 1b là 10,8%, lô 2a và 2b là 12,79%. Phần trăm VCK ăn vào so với khối lượng của cơ thể ở các lô thí nghiệm là: lô 1a: 2,36 ; 1b: 2,17; 2a: 2,74 và 2b: 2,65.
So sánh lượng ăn vào của hai nhóm giống trong cùng một phương thức cho ăn cho thấy lượng ăn vào của 2 nhóm bò trong cùng một phương thức nuôi dưỡng sai khác không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Ở lô 1 (chỉ cung cấp cỏ sả) bò Laisind có lượng ăn vào là 5,73kgVCK/ngày, trong khi đó bò lai Brahman là 5,83 kg VCK/ngày, tương tự như vậy ở lô 2 (2a: 7,00 và 2b: 7,19kgVCK/ngày)
Theo Stur và Horne (2000) cho rằng lượng ăn vào của bò sẽ tăng lên khi khẩu phần có tỷ lệ protein cao, khi bổ sung 30% cỏ đậu vào khẩu phần sẽ làm lượng ăn vào từ 7,5 đến 9,5 kgVCK/con mỗi ngày. Theo Presston và Willis (1967) thì lượng VCK ăn vào so với khối lượng cơ thể chiếm khoảng 2,8 – 3%, như vậy lượng ăn vào của bò lô 1a và 1b trong thí nghiệm này khá thấp (2,36% và 2,17%), trong khi bò ở lô 2a và 2b có lượng ăn vào cao hơn (2,78% và 2,65%).
Khả năng sinh trưởng của bò thí nghiệm
Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của bò trình bày trên bảng 4.
So sánh tốc độ sinh trưởng của bò Laisind và F1(LSxBr) trong cùng 1 phương thức nuôi dưỡng cho thấy:
- Ở lô không bổ sung stylo bò Laisind tăng khối lượng là 648,11g/con/ngày và cao hơn so với bò F1(LSxBr) là 570g/con/ngày, sai khác có ý nghĩa với p<0,05.
- Ở lô có bổ sung Stylo (tỷ lệ 3:1), tốc độ sinh trưởng của bò F1(LSxBr) cao hơn so với bò Laisind (p<0,05), (Laisind: 765,22 gam/ngày so với F1(LSxBr) là 789,11 gam/ngày).
Văn Tiến Dũng (2011) nghiên cứu nuôi bò sinh trưởng tại Ea Kar với khẩu phần bổ sung thức ăn hỗn hợp cho thấy bò lai F1 (LS x Dr) từ 15 – 18 tháng tuổi có tốc độ sinh trưởng là 680 g/ngày, trong khi đó theo dõi trong sản xuất nông hộ chỉ 450g/ngày . Như vậy trong thí nghiệm của chúng tôi, khi chỉ cần cung cấp đầy đủ cỏ chất lượng cao thì tốc độ sinh trưởng của bò tương đương với kết quả nói trên. Đoàn Trọng Tuấn và cs.(2006) điều tra tốc độ sinh trưởng của bò lai tại Duyên hải Miền trung cho biết bò lai từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi có tốc độ sinh trưởng chỉ 11,25kg/tháng, thấp hơn nhiều so với thí nghiệm của chúng tôi kể cả chỉ cho ăn 100% cỏ hòa thảo. Vũ Chí Cương và cs., 2007 cho biết sử dụng khẩu phần hàm lượng protein cao từ bột cá với tỷ lệ 10%, 20% và 30% để nuôi vỗ béo bò F2 (LS x Br) tại Đắk Lắk thì tăng trọng của bò từ 18 – 21 tháng tuổi ương ứng là 845, 744, 750 g/ngày, kết quả này tương đương với bò trong lô thí nghiệm 2a và 2b khi cung cấp tự do hỗn hợp cỏ sả và stylo theo tỷ lệ 3:1.
Hầu hết các tác giả nghiên cứu về nuôi sinh trưởng và vỗ béo bò Laisind và bò lai giữa Laisind với Brahman đều cho biết tốc độ tăng trọng của bò lai tốt hơn. Đoàn Trong Tuấn và cs.(2006) cho biết vỗ béo bò thịt giống Laisind và bò lai (LS x Br) cho tốc độ tăng trọng của bò lai Brahman cao hơn đáng kể so với bò Laisind (889 so với 726g/ngày). Kết quả trong thí nghiệm của chúng tôi trong điều kiện cho ăn tự do cỏ hòa thảo (lô 1a và lô 1b) có xu thế ngược lại, bò thí nghiệm trong lô 1b (bò lai Brahman) có tốc độ sinh trưởng thấp hơn đáng kể so với lô 1b (bò Laisind). Kết quả sinh trưởng của bò lai Brahman cũng thấp hơn đáng kể so với các tác giả khác. Điều này cho phép chúng ta nghĩ rằng khẩu phần chỉ cỏ sả có lẽ chưa đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của bò lai kinh tế giữa Laisind và Brahman, hay nói cách khác nếu nuôi bò lai kinh tế giữa Laisind và bò ngoại bằng khẩu phần chỉ cỏ hòa thảo, mặc dầu cho ăn tối đa vẫn cho tốc độ sinh trưởng thấp, tuy nhiên nếu áp dụng khẩu phần nay với bò Laisind thì lại cho hiệu quả cao. Việc tốc độ sinh trưởng của bò tại hai lô 2a, 2b đều có kết quả khá cao hơn hoặc tương đương so với các tác giả khác minh chứng rằng chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng khẩu phần rẻ tiền bao gồm hỗn hợp cỏ sả và Stylo theo tỷ lệ 1:3 để nuôi bò Laisind và lai kinh tế.
Kết quả so sánh bò cùng một nhóm nhưng nuôi ở 2 khẩu phần khác nhau cho thấy có sự sai khác đáng kể về tốc độ sinh trưởng giữa hai phương thức nuôi. Bò Laisind ở lô 2a sinh trưởng 765,22g/ngày trong khi đó lô 1a chỉ đạt 648,11g, tương tự như vậy bò lai Brahman ở lô 2b là 789,11g so với 570,00g ở lô 1b (p<0,05). Như vậy việc bổ sung cỏ stylo vào khẩu phần đã làm tăng tốc độ sinh trưởng lên 117,11 g/ngày (tương ứng 18%) đối với bò Laisind và 219,11 g/ngày (tương ứng 38%) đối với bò lai Brahman. Đây là một lựa chọn có ý nghĩa đối các hộ nông dân không có điều kiện để đầu tư thâm canh cao trong nuôi bò thịt, thì họ có thể cung cấp đầy đủ khẩu phần hoàn toàn thức ăn xanh gồm cỏ họ đậu và cỏ hòa thảo chất lượng cao, mặc dầu tốc độ sinh trưởng không cao bằng các khẩu phần sử dụng thức ăn hỗn hợp nhưng chắc chắn sẽ có hiệu quả kinh tế cao do chi phí thấp. Mặt khác một nghiên cứu thị trường tại Ea Kar năm 2008 cho biết người buôn bò tại Ea Kar sẵn sàng trả giá cao hơn cho bò thịt chất lượng cao nhưng chỉ nuôi dưỡng bằng thức ăn xanh (Truong Tan Khanh và cs., 2011).
Hiệu quả sử dụng thức ăn
Số liệu về kết quả theo dõi hiệu quả sử dụng thức ăn của bò thí nghiệm trình bày trên bảng 5.
Trừ lô 1b có tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng khá cao (10,23 kgVCK/kg tăng khối lượng), các lô còn lại có giá trị tương đương (8,84; 9,14 và 9,11) với p<0,05. Đinh Văn Tuyền và cs., 2007 cho biết vỗ béo bò bằng các khẩu phần bằng thức ăn hỗn hợp 15,86% protein sẽ cho tiêu tốn chất khô cho một kg tăng khối lượng chỉ từ 3,9 đến 4,5 kg VCK. Tuy nhiên các tác giả khác: Phạm Kim Cương và cs., 2001cho kết quả là 6,3 – 7,9 kg CK/1 kg tăng trọng, Vũ Chí Cương và cs., 2001 cho kết quả từ 6,2 – 15,9 kgVCK/1 kg tăng trọng, trong tiêu chuẩn NRC yêu cầu đạt 7,1 – 10,2 kgVCK/kg tăng trọng. Như vây, chỉ tiêu tiêu tốn thức ăn trong thí nghiệm này hơi cao, tuy nhiên điều đáng lưu ý là tất cả lượng vật chất khô trong thí nghiệm đều từ cỏ xanh với giá rẻ và hầu hết nông dân đều có thể sản xuất, vì vậy giá thành thức ăn để sản xuất 1 kg tăng trọng rất thấp từ 14,6 – 16,9 ngàn đồng
4. Kết luận và đề nghị
Kết luận
Nuôi bò Lai sind 18 – 21 tháng tuổi bằng cách cho ăn tự do (ad libitum) cỏ hòa thảo chất lượng cao có thể cho tăng trọng khá cao (đến 668,11 gam/con/ngày) và chi phí thức ăn thấp (14,6 ngàn đồng/1kg tăng trọng). Bò F1(LS x Br) nuôi bằng cách chỉ cho ăn tự do cỏ hòa thảo cho tăng trọng thấp và thấp hơn bò Laisind (570 g/con/ngày so với 648,11g/con/ngày) chi phí thức ăn cao (16,9 ngàn đồng/1kg tăng trọng), nhưng khi cho ăn tự do hốn hợp cỏ đậu và hòa thảo thì có tăng trong cao hơn bò Laisind.
Bổ sung cỏ Stylo184 vào khẩu phần cỏ sả theo tỷ lệ 25% và cung cấp tự do cho bò làm tăng lượng ăn vào của bò cả hai nhóm: Laisind tăng 22%, bò lai F1(LSx Branman) 23% so với bò chỉ ăn tự do cỏ hòa thảo.
Bổ sung có Stylo184 vào khẩu phần cỏ sả theo tỷ lệ 25% làm tăng tốc độ sinh trưởng của bò cả 2 nhóm lên khá cao (laisind tăng 18% và F1(LSx Branman) tăng 38%.
Nông dân hoàn toàn có thể nuôi sinh trưởng bò Laisind và bò lai kinh tế (Laisind x Brahman) bằng cách sử dụng khẩu phần có bổ sung cỏ Stylo184 theo tỷ lệ 25% mà không cần bổ sung thức ăn hỗn hợp vẫn có thể cho sinh trưởng khá tốt, hiệu quả sử dụng thức ăn cao, chi phí thức ăn cho 1kg tăng trọng thấp.
Đề nghị
Công nhận kết quả nghiên cứu và cho ứng dụng trong sản xuất nông hộ.
Tiếp tục nghiên cứu các khẩu phần hợp lý, sử dụng thức ăn sẵn có, rẻ tiền để nuôi bò ở các giai đoạn khác nhau, cung cấp thêm nhiều lựa chọn cho nông dân để áp dụng tuy theo điều kiện sản xuất của họ.
ABSTRACT
Effect of supplementation of fresh stylo in grass diet on growth rate and feed conversion ratio of growing beef cattle
The study was designed to evaluate the effect of feeding ad libitum the mixing of fresh stylo.184 and Panicum maximum grass diet (with ratio of 1:3) for growing cattle of Laisind breed and F1(LS x Br). The results of study showed: 1) Supplementing stylo 184 to the diet with only fresh grass improved the feed intake 22 – 23% compared to the diet only grasses; 2) The body weight gain of Laisind cattle that fed ad libitum only grass was quite high (648.11 gram/day) and significant higher than F1(Br x LS) with the same diet, while feeding cattle by mixing grass and legume with ratio 3:1 the body weight gain of crossbred F1(Br x LS) was higher; 3) The body weight gain of both cattle groups in the treatment of ad libitum mixing of stylo and grass was much higher than those if feeding only grass (765gram/day/head with Laisind and 789gram/head/day with F1(Br x LS); 4) the cost for producing 1kg of body weight gain of growing cattle was low (VND14,000 – VND 16,900) compared to it’s price in the market (VND 35,000 – VND40,000)
Key worlds: Effect, stylo, grass, growing cattle, Laisind, F1(LS x Br).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Vũ Chí Cương, Vũ Văn Nội, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung, Đinh Văn Tuyền, Đoàn Thị Khang (2001). Nghiên cứu sử dụng rĩ mật trong khẩu phần bò thịt. Các báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu khoa học 08-05. Trang 162 – 171.
Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung, Phạm Thế Huệ (2007). Ảnh hưởng của việc thay thế protein thoát qua (by-pass protein) trong khẩu phần đên khả năng tăng trọng và hiệu quả kinh tế của bê lai Brahman tại Đắk Lắk. Báo cáo trình bày tại hội nghị khoa học viện chăn nuôi 2007.
Phạm Kim Cương, Vũ Chí Cương,Vũ Văn Nội, Đinh Văn Tuyền, Nguyễn Thành Trung (2001). Nghiên cứu sử dụng rơm lúa trong khẩu phần bò thịt. Các báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu khoa học 08-05. Trang 174 – 187.
Văn Tiến Dũng (2011). Nghiên cứu quy trình nuôi dưỡng bò thịt chất lượng giai đoạn 6-18 tháng tuổi tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk
Đoàn Trọng Tuấn, Vũ Chí Cương, Bùi Đình Hậu (2006). Nghiên cứu xây dựng mô hình chăn nuôi bò lai hướng thịt Red Brahman x Laisind trong nông hộ duyên hải Miền Trung. Báo cáo trình bày tại hội nghị khoa học viện chăn nuôi 2006.
Đinh Văn Tuyền, Nguyễn Thành Nam, Phạm Hùng Cường, Nguyễn Thiện Trường Giang (2007). So sánh khả năng tăng trọng và cho thịt khi vỗ béo bê thuần Brahman và bê Laisind nuôi tại Tuyên Quang. Báo cáo Khoa học Viện Chăn nuôi năm 2007.
Viện Chăn nuôi ( 2001). Thành phần giá trị dinh dưỡng gia súc. gia cầm Việt Nam. Nxb nông nghiệp.
Tiếng Anh
Truong Tan Khanh, Werner Stür, Nguyen Van Ha and Alan Duncan (2010). Assessment of cattle marketing in Ea Kar district, Daklak, Vietnam in 2008. Website: http://mahider.ilri.org/handle/10568/4748
Trương Tan Khanh, Nguyen Ngoc Anh, Werner Stur (2011). Smallholder cattle fattening in Vietnam. Technical Advisory fo IFAD
Werner W. Stür and Peter M. Horne (2000). Developing forage technologies with smallholder farmers. How to grow, manage and use forages.
Preston, T.R., Willis, M.B. and Elias, A. (1967), Intensive Beef production from Sugar Cane
NRC 1984. The nutrient requirements of beef cattle,. Washington DC
2:00 AM |
Category: |
1 comments










Comments (1)
Cám ơn vì bài viết
------------------------------------------------
Gà Đông Tảo TPHCM
Web: http://sieuthigadongtao.com
Xem thêm các loại Gà Đông Tảo TPHCM : Gà đông tảo tphcm
Xem them cac loai Ga dong tao tphcm : Ga dong tao tphcm